Liêu Trai chí dị (Tập 2) - Quyển XIII - Chương 245 - 250
245. Người diễn trò rắn[1]
[1] Xà nhân.
Anh Mỗ ở
Sơn Đông sống bằng nghề diễn trò rắn, dạy được hai con rất thuần, đều màu xanh.
Con lớn thì đặt tên là Đại Thanh, còn nhỏ gọi là Nhị Thanh. Con Nhị Thanh trên
đầu có một cái chấm đỏ, đặc biệt khôn ngoan, lúc diễn trò bảo gì là làm nấy, người
diễn trò rắn yêu quý khác hẳn với những con khác. Một năm nọ con Đại Thanh chết,
y định tìm con khác thay nhưng chưa gặp dịp rảnh rỗi. Một đêm trọ lại ở chùa
trong núi, sáng ra mở giỏ thì con Nhị Thanh cũng đâu mất, y lo buồn muốn chết, tìm
tòi kêu gọi mà không thấy tăm hơi, lùm cây bụi cỏ nào cũng sục vào tìm, nghĩ
rằng trước nay nó luôn trở về, vì vậy cứ ngồi đợi nó tự về. Mặt trời đã lên cao,
cũng đã tuyệt vọng, bèn thất thểu lên đường. Đi được vài bước, nghe trong bụi
cây có tiếng sột soạt, ngạc nhiên quay lại nhìn, thì thấy con Nhị Thanh bò tới.
Y mừng như bắt được ngọc báu, đứng lại ở bên đường đợi, con rắn cũng dừng lại.
Nhìn về phía sau thì thấy một con rắn nhỏ đi theo nó, bèn vỗ về nói: “Ta cứ
tưởng ngươi đi luôn rồi. Bạn nhỏ này là ngươi dắt về phải không?” Bèn lấy thức
ăn ra cho ăn, cho cả con rắn nhỏ ăn nữa, con rắn nhỏ tuy không bỏ đi nhưng có
có vẻ sợ sệt không dám ăn. Nhị Thanh ngậm thức ăn cho nó, dáng như chủ nhà mời
khách. Người nuôi rắn cũng đút cho, nó bèn ăn. Ăn xong nó theo Nhị Thanh chui
vào giỏ, y vác về, dạy cho làm trò. Dần dà nó cũng vào khuôn phép không khác gì
Nhị Thanh, y đặt tên là Tiểu Thanh, mang đi diễn trò khắp nơi, thu được rất
nhiều tiền.
Đại để
những người diễn trò rắn chỉ dùng những con dài hai thước là thôi, dài hơn thì
quá nặng phải thay bằng con khác, nhưng vì con Nhị Thanh quá hay nên y chưa bỏ.
Hai ba năm sau, nó đã dài hơn ba thước, nằm chật cả cái giỏ, y bèn quyết thả nó
đi. Một hôm, đi tới Đông Sơn ở huyện Truy, bèn cho nó ăn thức ăn ngon, khấn
thầm rồi thả ra. Nó đi rồi nhưng giây lát lại quay lại, cứ ngoằn ngoèo bò quanh cái giỏ. Người diễn trò
rắn xua tay nói: “Đi đi thôi, trên đời không có tiệc vui trăm năm không tan, từ
nay ngươi náu thân nơi hang lớn, ắt sẽ thành thần long, đâu có thể ở trong giỏ
được?” Rắn bèn đi, y đưa mắt nhìn theo, lại thấy nó quay trở lại, xua cũng
không chịu đi, cứ lấy đầu cọ cọ vào cái giỏ, con Tiểu Thanh ở trong cũng quẫy
lộn soàn soạt. Y chợt hiểu, nói: “Ngươi muốn từ biệt Tiểu Thanh phải không?”
Bèn mở giỏ, Tiểu Thanh bò ra, hai con gác đầu thè lưỡi như nói chuyện dặn dò với
nhau, rồi cùng bò đi. Y đang nghĩ rằng chắc con Tiểu Thanh cũng không về, thì
thấy nó lặng lẽ trở lại một mình bò vào nằm trong giỏ.
Từ đó
theo hoàn cảnh mà tìm, nhưng không được con nào ưng ý, mà con Tiểu Thanh cũng
lớn dần, không thể diễn trò được nữa. Về sau được một con cũng hơi thuần nhưng
không bằng con Tiểu Thanh, mà con Tiểu Thanh đã to bằng cánh tay đứa trẻ con
rồi. Trước là con Nhị Thanh ở trong núi, những người đốn củi thường trông thấy,
vài năm sau lại dài thêm mấy thước to bằng cái tô, thường hay ra đuổi người, nên
người đi đường e dè ít dám qua lại nơi ấy. Một hôm người diễn trò đi ngang, con
rắn lao ra như gió, y hoảng sợ bỏ chạy, rắn đuổi theo càng gấp, quay lại thì
thấy nó đã gần sát tới nơi rồi. Nhìn thấy chấm đỏ trên đầu mới nhận ra là con
Nhị Thanh, bèn buông giỏ xuống kêu: “Nhị Thanh, Nhị Thanh!” Rắn dừng lại, ngẩng
đầu nhìn một lúc rồi phóng tới quấn lấy y như lúc còn diễn trò ngày trước. Y
biết nó không có ý hại mình, nhưng nó quá to nặng, y đứng không vững ngã lăn
xuống đất kêu lên, nó bèn buông ra. Lại lấy đầu cọ cọ vào cái giỏ, y hiểu ý, mở
giỏ thả Tiểu Thanh ra. Hai con rắn gặp nhau quấn chặt lấy nhau một lúc lâu mới
rời. Người nuôi rắn bèn nói với Tiểu Thanh: “Ta đã muốn thả ngươi từ lâu, nay thế là có
bạn rồi đấy,” rồi nói với Nhị Thanh, “Nguyên là ngươi dắt nó về, nay cứ dẫn nó đi.
Nhưng dặn các ngươi một câu, là núi sâu chẳng thiếu cái ăn, đừng ra quấy nhiễu
người đi đường mà phạm tội với trời.” Hai con rắn cúi đầu như hứa vâng lời rồi
cất mình đi, con lớn trước con nhỏ sau, qua khỏi rừng cây là nơi chia tay, người
diễn trò rắn đứng nhìn theo cho đến khi chúng khuất dạng mới rời đi. Từ đó
người qua lại trên đường lại được yên ổn, không rõ chúng đi đâu.
Dị Sử thị nói: Rắn là
một loài vật ngu xuẩn mà có ý quyến luyến người xưa, lại
còn có thể theo sự dạy bảo, như là đủ cả trí khôn. Chỉ quái lạ cho những kẻ rõ
ràng là người, mà đi với bằng hữu mười năm ân nhân mấy đời lại nghĩ tới chuyện
quăng xuống giếng, ném đá lên, nếu không như thế thì lúc đau ốm cần thuốc thang
lại nghênh ngang không đoái hoài gì tới mà còn giận dữ thù hằn, cũng thẹn với
rắn kia lắm vậy.
246.
Thần mưa đá[1]
[1] Bộc thần.
Ông Vương
Quân Thương đi nhậm chức ở Sở Trung (tỉnh Hồ Nam), định lên núi Long Hổ để làm
lễ ở đền Thiên sư[2]. Tới hồ,
vừa lên thuyền, lập tức có một người đi chiếc thuyền nhỏ tới, sai người trong
thuyền báo xin gặp. Ông nhìn thấy người ấy tướng mạo khôi vĩ, rút trong bọc ra
một tấm bài lệnh của Thiên sư nói: “Thiên sư nghe nói ông sắp tới thăm, sai ta
mang cung nỏ đi trước dẹp đường.” Ông ngạc nhiên về việc biết trước chuyện chưa
xảy ra, càng cho là thần kỳ, bèn thành tâm lên núi, Thiên sư bày tiệc khoản
đãi. Những kẻ phục dịch thì áo mão râu tóc phần lớn khác với người thường, người
xuống đón ông thì đứng hầu một bên. Giây lát, người ấy nói nhỏ với Thiên sư, Thiên
sư nói với ông rằng: “Đây là người cùng quê với tiên sinh, tiên sinh không nhận
ra sao?” Ông hỏi là ai, Thiên sư đáp: “Đây là người mà thế nhân vẫn gọi là Bộc
thần Lý Tả Xa đấy.” Ông ngạc nhiên đổi cả sắc mặt. Thiên sư nói: “Vừa được chỉ
của Thượng đế sai đi làm mưa đá, nên xin chào ông đấy.”
[2] Thiên Sư: tức Trương Đạo Lăng
thời Hán, được Đạo giáo tôn làm Thiên sư, con cháu ông về sau cũng được tôn là
Thiên sư.
Ông hỏi
làm mưa đá ở đâu, người ấy đáp: “Ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông).” Ông thấy
đất ấy sát nơi mình trấn nhậm, bèn rời ghế đứng dậy xin tha cho. Thiên sư nói:
“Đây là sắc lệnh của Thượng đế, mưa đá có số mục cả, làm sao tha miễn gì được.”
Ông nài nỉ không thôi, Thiên sư cúi đầu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi quay dặn người ấy
rằng: “Cứ làm mưa đá ở nơi rừng núi, đừng để thiệt hại hoa màu của dân là được,”
lại nói: “Khách quý đang ngồi đây, lên đường dùng văn không được dùng võ.” Vị
thần bước đi, ra tới giữa sân chợt dưới chân sinh mây, hơi mù nghi ngút cuốn
trên đất. Khoảng một khắc sau hết sức nhảy lên, mới chỉ cao hơn cây cối ở sân, lại
nhảy lên, cao hơn lầu gác, ầm một tiếng sét nổ, bay luôn về phía bắc, nhà cửa
lung lay, mâm bát xô lệch. Ông kinh hãi hỏi: “Cứ thần ra đi là làm sấm sét à?”
Thiên sư đáp: “Vừa dặn trước nên y mới đi từ từ, nếu không thì đất bằng chợt
dậy sét, đi luôn ngay rồi đấy.” Ông cáo biệt về, ghi lại ngày tháng, sai người
qua Chương Khâu hỏi, quả hôm ấy có mưa đá rất lớn, đầy cả suối khe, nhưng hoa
màu ngoài ruộng chỉ hư hại một ít.
247.
Tội nghiệt nhà sư[1]
[1] Tăng nghiệt.
Trương
sinh chết bất ngờ, hồn đi theo quỷ sứ tới gặp Diêm Vương. Diêm Vương tra lại sổ,
thấy quỷ sứ bắt lầm bèn nổi giận trách mắng, bắt phải đưa về. Trương xuống khỏi
điện, xin riêng với quỷ sứ cho được đi xem địa ngục, quỷ dắt đi khắp nơi ngục
Cửu U, núi kiếm vạc dầu cho xem, tới đâu cũng giải thích tường tận. Sau cùng
tới một chỗ, thấy có nhà sư bị buộc vào đùi treo ngược lên, đau đớn kêu gào
muốn đứt hơi, tới gần nhìn thì ra là anh mình. Trương hoảng sợ, hỏi vì tội gì
mà đến nông nỗi này, quỷ sứ
đáp: “Người này làm sư, đi khuyến hóa tiền bạc các nơi lại đem đánh bạc chơi đĩ
ráo cả, nên phạt như thế. Muốn thoát tai ách phải sám hối thôi.” Trương được
sống lại, nghĩ là anh mình đã chết. Lúc ấy người anh tu ở chùa Hưng Phúc, bèn
tìm tới xem. Vào tới cổng đã nghe tiếng anh đau đớn kêu la, vào tới phòng thì
thấy trên đùi nổi mụn nhọt to vỡ ra, máu chảy dầm dề, đang nằm buộc chân treo
lên vách, từa tựa như cảnh mình đã thấy bị treo ngược dưới âm phủ vậy. Sinh
hoảng sợ hỏi, người anh làm sư đáp: “Treo lên còn đỡ, nếu không thì đau thấu
tim gan.” Trương nhân đó thuật lại chuyện mình mắt thấy tai nghe, nhà sư cả sợ,
bỏ hết rượu chè, kính cẩn tụng kinh, được nửa tháng thì khỏi, sau trở thành một
nhà sư thanh tu.
Dị Sử thị nói: Âm phủ xa xôi, kẻ
ác cứ lấy đó để tự trấn an, mà không biết cái họa sờ sờ chính là sự trừng phạt
của cõi u minh, có thể không cẩn thận sao!
248.
Ba kiếp[1]
[1] Tam sinh.
Hiếu liêm
họ Lưu nhớ được chuyện kiếp trước, là bạn đồng khoa với tiên huynh là Văn Phấn
công, thường kể lại rất rõ ràng. Một kiếp ông là con nhà sĩ hoạn nhưng làm
nhiều điều xấu xa, chết năm sáu mươi hai tuổi. Lúc ông vừa vào gặp, được Diêm
Vương tiếp đãi theo lễ đối với người lớn tuổi, cho ngồi, mời uống trà. Nhìn
thấy nước trà trong veo, tới giữa chén lại đục như keo, ông thầm nghi là thuốc
lú, nhưng làm sao từ chối không uống được? Bèn nhân lúc Diêm Vương ngoảnh qua
chỗ khác, lén đổ xuống góc bàn rồi làm như đã uống cạn. Lát sau bản tội lỗi
kiếp trước của ông được kê ra, Diêm Vương nổi giận, sai quỷ sứ lôi xuống, phạt
đầu thai làm ngựa, liền bị quỷ sứ trói lại dẫn di.
Tới một
nhà nọ, bậc cửa rất cao không leo qua được, ông đang loay hoay, quỷ đã ra sức
đánh mạnh, ông đau quá nhảy luôn lên, nhìn lại thì thấy mình đã đứng trong
chuồng ngựa. Nghe tiếng người nói: “Ngựa đen sinh được ngựa đực con,” biết rằng mình đã đầu thai
làm ngựa, nhưng không sao nói được. Thấy đói quá, bất đắc dĩ phải tới bú ngựa
mẹ. Được bốn năm năm thì trở nên to lớn nhưng rất sợ bị đánh đập, thấy roi là
chạy. Người chủ cưỡi bao giờ cũng bỏ đinh thúc ngựa nên không khổ lắm, nhưng
tên mã phu thì cứ siết chặt đai da mà cưỡi, hai gót cùng thúc, đau không chịu
nổi. Vì thế ông uất ức, bỏ ăn ba ngày rồi chết.
Xuống tới
âm phủ, Diêm Vương tra sổ thấy ông chưa hết hạn bị đày, trách phạt về tội trốn
tránh, lột hết da, bắt làm chó. Ông buồn bã không muốn đi, lũ quỷ xúm lại đánh
túi bụi, đau quá chạy tuông ra đồng, tự nghĩ thà chết còn hơn, phẫn uất nhảy
xuống vực sâu, không sao lên được. Nhìn lại thì thấy mình đã nằm trong ổ chó, đang
được chó mẹ liếm láp, biết là đã
đầu thai rồi. Lúc hơi lớn thấy phân người biết là nhơ bẩn, có điều ngửi thì
thấy thơm, nhưng quyết không ăn. Được hơn một năm, uất ức muốn chết nhưng lại
sợ bị trách phạt về tội trốn tránh, chủ lại cho ăn cơm mà không làm thịt. Ông bèn cắn vào bắp chân chủ rứt
đứt cả thịt ra, bị chủ tức giận đập chết.
Diêm
Vương tra hỏi biết chuyện, giận tội cắn bậy, đánh cho ông mấy trăm gậy, đày làm
rắn, nhốt vào hầm tối không cho nhìn thấy mặt trời. Ông rất buồn bã, bám vách
leo lên trổ hầm chui ra, nhìn lại thì thấy mình đã nằm giữa đám cỏ, biến thành
rắn rồi. Bèn quyết chí không giết các sinh vật, đói thì ăn trái cây. Được hơn
năm, vẫn nghĩ rằng tự tử thì không được, cắn người để bị giết cũng không được, muốn
tìm một cái chết yên lành nhưng chưa có dịp. Một hôm nằm trong đám cỏ, nghe
tiếng xe chạy, bèn bò ra nằm giữa đường, bị cán đứt làm hai khúc. Diêm Vương
ngạc nhiên vì thấy trở lại mau quá, ông kể lại mọi chuyện. Diêm Vương cho rằng
vô tội mà chết nên tha, cho được hết hạn, được trở lại làm người, đó là ông
Lưu. Lưu sinh ra đã biết nói, kinh sử đọc qua là thuộc lòng, đỗ Hiếu liêm năm
Tân Dậu, thường khuyên người ta là cưỡi
ngựa nên nới lỏng dây cương, bỏ đinh thúc ngựa, thì còn hơn cả roi vọt.
Dị Sử thị nói: Trong
đám thú vật có kẻ là bậc vương công đại nhân, xem đó đủ biết trong những bậc
vương công đại nhân cũng chưa chắc là không có thú vật. Cho nên kẻ hèn làm điều
lành thì như muốn có hoa mà trồng cây, kẻ sang làm điều lành thì như đã có hoa
mà vun gốc. Trồng thì cây lớn, vun thì cây vững. Nếu không, thì phải kéo xe
muối, bị thắng cương, làm thân ngựa, không thì phải ăn cứt đái, bị giết thịt, làm
thân chó, không thì cũng phải thân mọc vẩy, bị ưng bắt, làm thân rắn.
249.
Chàng Cảnh thứ mười tám[1]
[1] Cảnh thập bát.
Chàng
Cảnh thứ mười tám người huyện Tân Thành (tỉnh Sơn Đông) bị bệnh nặng, biết
không sống được, nói với vợ rằng: “Sắp vĩnh biệt nhau rồi. Sau khi ta chết, thủ
tiết hay lấy chồng khác đều tùy nàng, nhưng xin cứ nói rõ.” Vợ im lặng không
đáp, Cảnh cứ hỏi riết, lại nói: “Thủ tiết thì tốt, lấy chồng khác là thường
tình, cứ nói rõ có gì phải ngại? Ta sắp cùng nàng vĩnh biệt, nàng mà thủ tiết
thì ta được an ủi, nàng mà lấy chồng khác thì ta cũng dứt được tình!” Vợ rầu rĩ
nói: “Nhà không có đấu thóc thừa, chàng còn sống đã không đủ ăn, lấy gì mà thủ
tiết.” Cảnh nghe thấy chụp lấy vai vợ, uất ức nói: “Nhẫn tâm quá!” dứt lời thì
chết, tay vẫn nắm cứng vai vợ không buông. Vợ kêu ầm lên, người nhà đổ tới, phải
hai người bẻ ngón tay, ra sức giật mạnh mới gỡ ra được. Cảnh không biết là mình
đã chết, ra khỏi cửa thấy có hơn mười chiếc xe nhỏ, mỗi chiếc có mười người, đều
có danh sách dán trên thùng xe. Người đánh xe thấy Cảnh, giục lên xe mau. Cảnh
thấy trên xe đã có chín người, mình là người thứ mười, lại nhìn tới danh sách
thì thấy tên mình ở cuối cùng.
Xe chạy
rầm rập, tiếng bánh xe khua vang chẳng nghe thấy gì khác, cũng chẳng biết là đi
đâu. Lát sau tới một chỗ, nghe tiếng người nói rằng: “Đây là đất Nhớ quê.” Cảnh
nghe thấy lấy làm ngờ, lại nghe đám đánh xe nói với nhau rằng: “Hôm nay chém ba
người,” lại càng hoảng sợ. Đến khi nghe họ trò chuyện, đều là chuyện dưới âm
phủ, mới sực nghĩ ra: “Chẳng lẽ mình đã thành ma rồi sao?” Nhớ lại gia đình chẳng thấy luyến
tiếc gì, duy còn mẹ già tuổi đã cao, vợ đi lấy chồng khác sẽ không có người săn
sóc, nghĩ tới đó bất giác nước mắt vòng quanh. Đi một lúc nữa, thấy có đài cao
mấy nhận, rất nhiều người lên xuống, kẻ bị gông người bị xiềng, kêu khóc rầm rĩ,
nghe người ta nói là đài Nhìn quê. Mọi người tới đó đều nhao nhao nhảy xuống xe,
người đánh xe hoặc đánh đập hoặc giữ lại, chỉ tới Cảnh thì giục lên đài. Cảnh đi hơn mười bước thì tới
tầng trên cùng, nghển đầu nhìn thấy rõ cả nhà cửa cổng nẻo, nhưng phòng ốc như
bị mây mù che kín, ngậm ngùi khôn xiết.
Ngoảnh
nhìn bốn phía, thấy có một người mặc áo ngắn màu xanh kề vai cùng đứng. Người
ấy hỏi tên họ Cảnh, Cảnh nói rõ, người ấy cũng tự xưng là thợ mộc ở Đông Hải.
Thấy Cảnh buồn rầu, hỏi có chuyện gì, Cảnh lại nói rõ, người ấy bàn với Cảnh
xuống đài bỏ trốn. Cảnh sợ bị đuổi bắt, người ấy nói không sao, Cảnh lại sợ đài
cao xuống không được, người ấy nói cứ theo mình, rồi nhảy xuống trước. Cảnh
cũng nhảy theo, tới đất không hề hấn gì, mừng là không có ai biết. Nhìn thấy
chiếc xe vẫn còn ở dưới đài, hai người vội bỏ chạy. Được mấy chặng, chợt nghĩ
rằng tên họ vẫn còn trong danh sách dán trên xe, sợ bị đuổi theo bèn quay trở
lại, nhấm nước bọt vào tay xóa tên mình, rồi lại bỏ chạy, thở không ra hơi vẫn
không dám dừng chân.
Một lúc
sau về tới cổng, người ấy đưa Cảnh vào phòng, chợt thấy xác mình, Cảnh bèn nhập
vào sống lại. Thấy mệt mỏi khát nước, bèn gọi lấy nước, người nhà hoảng sợ đưa
nước tới. Cảnh uống hơn một thạch rồi ngồi dậy chắp tay như lạy tạ, kế đó lại
ra cửa như tiễn khách rồi trở vào nằm vật xuống không động đậy. Người nhà thấy
hành động kỳ quái, ngờ là không phải sống lại thật, nhưng nhìn kỹ thấy không có
gì khác lạ, bèn tới gần hỏi han, Cảnh mới thuật lại rõ ràng mọi chuyện. Người
nhà hỏi ra cửa làm gì, Cảnh đáp: “Chào người thợ mộc.” Lại hỏi sao uống nước
nhiều thế, Cảnh đáp: “Ban đầu là uống cho ta, kế là uống cho người thợ mộc.”
Người nhà đổ cháo cho ăn, mấy ngày thì khỏi, từ đó rất ghét vợ, không bao giờ
ngủ chung.
250. Yêu quái trong nhà[1]
[1] Trạch yêu.
Trong
loạn Tạ Thiên[2] phủ đệ các quan đều bị giặc chiếm, nhà
quan Đốc học Vương Tương có rất nhiều giặc ở. Lúc thành bị phá, quan binh tràn
vào chém giết thẳng tay, thây chất đầy sân, máu chảy ngập cửa. Ông Vương vào
thành, dọn dẹp sạch sẽ để ở, thường giữa ban ngày cũng nhìn thấy ma, ban đêm
thì ma trơi lập lòe quanh giường, trong góc tường có tiếng ma khóc. Một hôm thư
sinh Vương Hạo Địch tới ngủ nhờ, nghe dưới gầm giường có tiếng kêu nho nhỏ “Hạo
Địch, Hạo Địch” liên tiếp, rồi kêu to dần, nói: “Ta chết khổ lắm.” Kế đó tiếng
khóc vang lên khắp sân. Ông Vương nghe thấy, cầm kiếm xông vào lớn tiếng quát:
“Các ngươi không biết ta là Vương Học viện à?” Chỉ nghe tiếng nhổ, tiếng cười, tiếng
khịt mũi rộn lên. Ông Vương vì thế lập đàn tràng, tụng kinh siêu độ, tối đem
cơm ra cúng, thì thấy ma trơi lập lòe khắp mặt đất bay ra.
[2] Tạ Thiên: người
Cao Uyển tỉnh Sơn Đông, nổi dậy chống nhà Thanh năm Thuận Trị thứ 3 (1646).
Trước
đó người gác cửa nhà ông là họ Vương mắc bệnh, hôn mê đã mấy ngày, đêm ấy chợt
tỉnh lại. Vợ đưa cơm tới, Vương nói: “Chẳng biết chủ nhân có chuyện gì lại bày
cơm ở sân cho ăn, ta cũng theo mọi người vào ăn, no rồi mới về, nên không thấy
đói.” Từ đó ma quỷ tuyệt tích, hoặc giả chuông trống nạo bạt của đạo Thích cũng
có ích chăng!
Dị Sử thị nói: Ma tà quỷ quái chỉ có đức
mới ngăn cản được. Lúc thành bị hãm, quan binh kéo vào, người đều hoảng sợ, nhưng
ma quỷ lại coi thường, hay đó là những ma quỷ chết phi mạng chăng? Muốn nói với
tất cả các bậc đại nhân tiên sinh trong thiên hạ, là đem bộ mặt người ra còn
không đủ để dọa ma quỷ, mong rằng đừng đem bộ mặt ma quỷ ra để dọa người vậy.