Tình Yêu Trở Lại - Chương 48

Phần Bốn - Chương 48

Tác giả: Madge Swindells

T háng Tư, năm 1961. 



Mùa thu năm nay những con diệc bay đi tránh rét sớm hơn thường lệ, báo hiệu sẽ có một mùa đông khắc nghiệt. Hàng ngày, Acker nhìn chúng bay lượn trên đầu cậu trước khi kéo nhau về phương Bắc tới phía châu Âu và thầm hỏi rằng Katie hiện đang sống ở nơi nào. 



Bốn năm đã trôi qua kể từ ngày diễn ra phiên tòa ác nghiệt nhưng Acker lại tưởng rằng thời gian còn lâu hơn thế rồi. Khi vụ án được làm sáng tỏ là một câu chuyện cảm động cũng là lúc Katie biến mất, để lại không biết bao nhiêu là suy đoán của mọi người. Điều đó đã tác động cực xấu tới cha mẹ cậu, đặc biệt là mẹ. Gia đình cậu không tiếc sức trong việc tìm Katie nhưng cô bé đã biến mất tăm như chưa hề từng tồn tại. Kể từ khi nó chạy lao ra khỏi phòng xử án, chẳng ai còn trông thấy nó đâu nữa. Anna đã bay đi bay lại từ Nam Phi sang châu Âu rồi lại về Nam Phi không ít hơn tám lần để dò theo từng dấu vết mà những công ty thám tử cung cấp - nhưng sau mỗi lần như thế mẹ lại trở về nhà trong tâm trạng buồn thảm hơn. Dạo này mẹ dành phần lớn thời gian nhốt mình trong phòng làm việc, rèm cửa buông kín và chiếc điện thoại là sợi dây liên lạc duy nhất nối mẹ với thế giới bên ngoài. 



Sau phiên tòa, cuộc sống của họ đã bị xáo trộn trong suốt một năm trời. Hàng trăm cú điện thoại và thư từ được gửi tới - có cả sự nhiếc móc lẫn những lời ca tụng. Bạn bè xa lánh và Simon bị chỉ trích nặng nề. Jacob thường xuyên phải lấy sơn xóa đi những khẩu hiệu xuất hiện ban đêm trên những bức tường của Fontainebleu. 



Cảnh sát thỉnh thoảng vẫn triệu gia đình nhà Smit lên. Người ta muốn đề cập tới việc bắt Jan vì tội làm chứng sai và bắt Simon vì đã vi phạm đạo đức. Anna cũng vi phạm pháp luật với hai tội danh: bắt cóc trẻ em và nuôi một đứa bé da đen trong một gia đình da trắng. 



Gia đình nhà Smit thuê một đội ngũ luật sư hàng đầu trong nước và họ đã thành công trong việc cãi trắng án cho cả ba người. Katie cũng chính thức được tuyên bố là người da trắng và được nhận làm con nuôi một cách hợp pháp. Dù sao thì cô bé cũng là con đẻ của Simon và có một làn da rất trắng cơ mà. Một lần nữa những tiếng xì xào bàn tán lại rộ lên trong thị trấn nhưng cuối cùng nó cũng nhanh chóng xẹp xuống. 



Đó cũng là một giai đoạn khủng hoảng tinh thần đối với Acker. Cậu chưa bao giờ có suy nghĩ phân biệt màu da ở trong đầu. Đối với Acker ai cũng là con người cả dù họ tốt hay xấu, được quý trọng hay bị khinh thường. Đó chính là một vấn đề luôn khiến cậu và Katie bất đồng quan điểm. Ôi, giá như cậu là con của Sophie thay chỗ cho Katie được nhỉ! 



Lúc đầu, cậu trách Katie rất nhiều và những cơn giận dữ thường là không thể chịu nổi. Con bé đã bỏ chạy, đã không dám đối mặt với sự chế giễu trong một xã hội quá nhỏ bé và không đáng quan tâm một tẹo nào, bỏ mặc một người mẹ trong lòng đang tràn ngập nỗi đau khổ và cay đắng, khoét thêm vào rãnh sâu ngăn cách giữa cha và mẹ, thậm chí không thèm nhắn lại một câu là nó đi đâu. Katie đúng là một kẻ hèn nhát, hàng ngày cậu vẫn tự nhủ mình như vậy. Dù gì đi chăng nữa nó vẫn là con gái của cha Simon, thế có nghĩa nó vẫn là em cùng cha khác mẹ với cậu kia mà. Và Chúa biết, mẹ cậu yêu quý nó tới mức nào. Nhưng càng nghĩ, cậu lại càng cảm thông hơn với cách cư xử của Katie khi phát hiện ra thân thế thực sự của nó ngay giữa phiên tòa. Có lẽ con bé cần phải tìm hiểu xem mình là ai, và việc rời bỏ gia đình này sẽ giúp nó làm được điều đó. Thế nhưng cậu vẫn không thể nào chế ngự nổi nỗi bực bội của mình. Nó làm cho lất cả mọi người đau khổ và không ai có thể an ủi được Anna khỏi sự buồn phiền luôn túc trực trong lòng. 



Đôi lúc Acker cho rằng sự biến mất của Katie đã làm cho mẹ suy sụp còn hơn cả những tiếng la ó chế giễu của một số người dân trong vùng. Sau phiên tòa, Anna đã khóc ròng tới mấy ngày, và cho tới cuối tháng đó mẹ bắt đầu xa lánh tất cả mọi người, kể cả cha và thậm chí là cậu. Mẹ thuê một đội thám tử tư do Mervyn Morris, luật sư sắc sảo và tài giỏi nhất tỉnh phụ trách, và bắt đầu một loạt các hành động trả thù khiến cho dân chúng trong vùng trở nên hết sức dè chừng và lo ngại. Những người dân đã từng ném đá vào xe ô tô của Anna là mục tiêu đầu tiên hứng chịu cơn giận dữ của cô. Cô đóng cửa khu vui chơi giải trí, đóng cửa văn phòng giới thiệu việc làm và nhiều trung tâm bảo trợ xã hội khác mà trước đây cô đã từng lài trợ. Cô còn định đóng cửa cả trường học của con em những người nông dân đó nữa nhưng đã vấp phải sự phản đối kịch liệt của Acker và cuối cùng cậu đã thắng; nhưng sau đó cô ở lì lại trong phòng riêng của mình tới hơn một tuần lễ, từ chối nói chuyện với cậu. 



Edwina cũng nhận được phần báo oán của mình, Acker biết rõ như vậy vì cậu đã nhìn thấy những bức thư. Những lá đơn xin tăng lương bị vứt vào sọt rác, những yêu cầu sửa chữa và cải tạo lại ngôi nhà nhỏ của ba mẹ con họ bị chối từ. Edwina giờ trông cũng xơ xác y như ngôi nhà của họ vậy. Một hôm khi Anna có vẻ như đang trong một tâm trạng khá hơn thường lệ, Acker đã đề cập tới vấn đề đó với mẹ mình nhưng cô chỉ cười nhạt. 



- Cô ta ghét mẹ lắm. - Cô lẩm bẩm. 



- Chúa ơi, Edwina có biết ghét ai bao giờ đâu. - Cậu tranh luận. 



- Vậy tại sao cô ta cứ ngồi lỳ ở hàng ghế đầu trong phiên tòa hết ngày này qua ngày khác thế? 



Acker tỏ ra mất hết bình tĩnh, một điều hiếm khi xảy ra. 



- Mẹ không thể quên cái phiên tòa chết tiệt ấy đi được à? Cứ như thế này thì chính mẹ sẽ bị tổn thương chứ không phải họ đâu. Mẹ đang tự hủy hoại mình, mẹ có nhận ra điều đó không thế hả? 



Anna tránh mặt Acker mấy ngày sau đó. 



Nhưng mặc dầu oán hận chất chồng trong lòng như vậy nhưng Anna vẫn kín đáo bênh vực già Jan. Sau phiên tòa già trốn biệt trong làng tới mấy ngày liền, say rượu như chết và từ chối nói chuyện với tất cả mọi người. Đến ngày thứ tư già mệt nhọc lê bước về Fontainebleu, nhặt nhạnh mấy thứ đồ đơn sơ nghèo nàn của mình và đứng từ ngoài cửa nói vọng vào lời vĩnh biệt, nước mắt rỏ lã chã xuống hai bên má. Anna đã phải mất tới cả buổi chiều để thuyết phục già ở lại. Acker chẳng bao giờ hiểu được mối quan hệ ràng buộc kỳ lạ mà mẹ cậu chia sẻ với ông lão người Hottentot lúc nào cũng say bí tỉ này. 










* * 






Anna đi đi lại lại trong căn phòng tối om, cảm thấy lo âu và căng thẳng. Cuối cùng Mervyn Monis cũng gọi điện tới. 



- Ông làm gì mà lâu thế? - Giọng Anna xoe xóe vọng vào trong ống nói. 



- Thưa bà van Achtenburgh-Smit đáng mến, đội thám tử vừa mới rời văn phòng của tôi chưa đầy một phút mà. 



- Lão ta có ký không? 



- Ồ tất cả chúng ta đều biết rõ là lão sẽ ký, nhưng phải cho lão thời gian để suy nghĩ. Lão đang muốn mặc cả thêm một vài điều kiện, muốn đảm bảo cho đội ngũ nhân viên của lão. 



- Vậy ông đã từ chối những gì? 



- Tôi đã gửi cho lão một bức thư theo đúng chỉ dẫn của bà. Bây giờ bà là người chủ sở hữu duy nhất của tờ Ngôi sao Stellenbosch. 



- Ông hãy cứ làm theo kế hoạch đã định. - Cô nói ngắn gọn và đặt ống nghe xuống. 



Trong vòng có hai mươi phút đồng hồ, toàn bộ ban biên tập và trị sự của tờ Ngôi sao Stellenbosch đã bị sa thải trừ có mỗi một người - William Rose, tổng biên tập. Sự sợ hãi cháy âm ỉ trong cặp mắt của hắn khi hắn quay số điện thoại mà người ta đã cung cấp. Việc ai là người chủ mới của tờ báo giờ không còn là điều bí mật nữa rồi. 



- Tôi dự định sẽ chấn chỉnh lại việc đưa tin của tờ báo này. - Anna lạnh lùng bảo hắn. - Và tôi sẽ kiểm soát chặt chẽ. Trước đây người ta trả lương cho anh là bao nhiêu? 



Hắn cáu kỉnh trả lời cô. 



- Người mà tôi sẽ thuê làm tổng biên tập, tôi dự định sẽ trả lương gấp ba lần như thế. - Cô nói tiếp. - Nhưng nếu anh muốn thử thì tôi cũng rất hoan nghênh. 



Đây chính là lúc phải rút lui, nhưng mức lương lớn gấp ba lần! Tiền thật là một thứ khó ai cưỡng nổi, hoặc ít ra lúc đó Rose cũng nghĩ như vậy 



- Anh sẽ phải mang tới cho tôi kế hoạch đưa tin cụ thể và những bản tóm tắt ý chính của các bài xã luận sẽ đăng vào buổi sáng thứ Bảy và tới tối ngày thứ Tư sẽ trình cho tôi bản copy của tất cả các bài báo sẽ in trong số tới. Tôi sẽ gọi điện nếu như có điều gì đó không chấp nhận được. À mà Rose này, tôi để ý thấy tờ Ngôi sao Stellenbosch đã bỏ qua mục đăng tải tỉ giá quy đổi giữa đồng bảng và đồng rand [9]. Đó là điều mà những người nông dân rất quan tâm. Hãy làm ngay trong số tới đi nhé! 



- Không thể được đâu, - hắn ta nóng nảy ngắt lời. - Thứ Năm là ngày ra báo, mà hôm nay đã là thứ Ba rồi. 



- Với mức lương như vậy, Rose ạ, không thể được là cụm từ mà anh cần phải quên đi. 



Và cuộc hội thoại chấm dứt bằng một tiếng cách khô khốc. 










* * 






Vào ngày thứ Năm thời tiết đột ngột thay đổi. Những cơn gió lạnh cắt da cắt thịt từ phía nam ùa tới và những cơn mưa đầu tiên bắt đầu rơi, đánh dấu thời khắc bắt đầu của một vụ gieo hạt mới. 



Đầu óc Simon rối bời vì những cú điện thoại gọi tới yêu cầu anh đến sửa chữa máy móc và mua sắm trang thiết bị. Hai năm trước anh đã dành được độc quyền phân phối cho một nhãn hiệu sản xuất máy nông nghiệp nổi tiếng của Mỹ. Việc bán hàng được quảng cáo rùm beng, và họ chờ đợi trong suốt ba tháng trời, sau đó bốn công nhân của anh bắt đầu phải làm việc hết công suất suốt cả ngày lần đêm. 



Một hôm, có một cú điện thoại từ trang trại Goedgeluk gọi tới nhưng chẳng còn ai rảnh cả mà công việc lại đang rất khẩn kíp, vì vậy đích thân Simon phải đến đó. Trang trại nằm quá Malmesbury chừng tám dặm trên đường tới Riebeek Kasteel, một nơi mà Simon từng mơ ước suốt trong thời gian chiến tranh, nằm trải rộng trên một diện tích là một nghìn năm trăm mẫu đất. Vây quanh nó là những sườn núi thấp hơn và có vài con sông từ trên đó đổi xuống cánh đồng. Tất cả những trang trại nằm trong thung lũng có sườn núi bao quanh đều nổi tiếng với những khoản lợi tức cao đến khác thường. Cặp mắt của Simon ánh lên vẻ ghen tị trong lúc anh quan sát quang cảnh hai bên con đường dẫn từ cổng vào trong khu nhà chính của trang trại. 



Paul Bosman đang đợi ngoài sân. Đó là một người đàn ông già, trông ông la có vẻ hết sức căng thẳng. 



- Ông đừng lo, chúng tôi sẽ cố gắng làm thật nhanh mà. Sẽ không mất nhiều thời gian đâu. - Simon an ủi ông ta. 



Tuy vậy cũng phải mất tới hai giờ đồng hồ công việc mới xong, nhưng Simon vẫn chưa hài lòng. 



- Chiếc máy kéo này cũ quá rồi, một số phụ tùng đã tới lúc cần phải được thay thế, - anh nói với Bosman. - Nơi này có vẻ như là một trang trại sinh nhiều lợi nhuận, vậy tại sao ông không đầu tư mua một cái mới? 



Bosman nhún vai. 



- Tôi đang tính bán hết đi. - ông ta trả lời. - Vợ của con trai tôi không muốn sống ở đây. Vấn đề là ở chỗ, ngày nay những người trẻ tuổi sợ phải lao động chân tay lắm. Tôi sẽ chẳng trồng trọt gì nhiều, chỉ đủ để trang trải chi phí cho công việc duy trì trang trại thôi. Nào, mời anh vào ăn trưa với tôi nhé. 



- Dạ thôi, cám ơn ông, tôi muốn làm cho nó hoàn chỉnh cái đã, - Simon bảo ông ta. - Tôi sẽ mang tới một số đồ phụ tùng mà ông cần. Không nên mạo hiểm với chiếc máy kéo này ông ạ. 



Thật là tiếc, anh nghĩ trong lúc lái xe vào làng. Trang trại đó đúng là một trang trại màu mỡ nhất tỉnh, rất thích hợp cho việc trồng lúa mì và chăn nuôi bò sữa. Lại có cả một vườn cây ăn quả rất rộng ở đằng sau đập nước. Ngoài ra, phong cảnh nơi này rất đẹp, khu nhà chính nằm ẩn mình giữa các lùm cây mọc dày trên những sườn núi trông thật lãng mạn. Nếu anh mà có được nơi này thì những hoài bão của cuộc đời anh chắc chắn sẽ thành hiện thực. 



Anh quay lại cùng với đồ phụ tùng thay thế, lắp vào chiếc máy kéo và nán lại ăn bữa tối cùng gia đình. Bosman luôn miệng xuýt xoa tỏ ý nuối tiếc cái trang trại sắp sửa phải đem đi bán. 



- Tôi sẽ đợi thêm vài tháng nữa, xem Piet có đổi ý hay không. - ông ta nói. - Nếu như thằng bé không đổi ý thì tôi sẽ bán. 



Suốt đêm đó Simon không tài nào ngủ được, mọi suy nghĩ của anh đều hướng về Goedgeluk mặc dầu anh hiểu rằng một trang trại mà không có bóng dáng của người vợ thì sẽ là nơi hiu quạnh vô cùng. Kể từ sau phiên tòa, anh chẳng còn chút hy vọng giảng hòa được với Anna. Cô ấy đã cực kỳ tức giận khi phát hiện ra rằng bản thân anh cũng nghi ngờ cô giết hại đứa bé, hay chí ít cũng bỏ mặc cho nó chết. Anh lý luận đó là do lỗi của cô - cô đã không hé với anh lấy nửa lời về chuyện này. Tại sao cô không nói ra ngay từ đầu cơ chứ. 



Đối với Simon, hình ảnh của Anna bây giờ đã thay đổi hoàn toàn. Anh buộc phải chấp nhận rằng cô không phải là con người nanh ác như anh đã nghĩ. Ngược lại, cô còn dám mạo hiểm cả tính mạng của mình với giá treo cổ để bảo vệ Katie. Theo những định kiến trước đây của anh, phụ nữ thường chia làm hai loại: Một là người phụ nữ tuyệt vời: tốt bụng, dễ mến, dịu hiền, hay nhân nhượng và yếu đuối, phải cần tới một cánh tay đàn ông chắc khỏe để nương tựa; và một là người phụ nữ có tính cách dữ dội: mạnh mẽ, hằn học, lạnh lùng và tự phụ. Bây giờ anh lại thấy cả hai tuýp người ấy pha trộn trong con người của Anna. Nhưng nổi bật hơn cả là lòng trung hậu và tình yêu mãnh liệt. Phải mất tới hai chục năm trời Simon mới học được cách yêu Anna đúng như con người của cô - như vậy có vẻ đã quá muộn. Cô ấy giờ không còn muốn nhìn thấy mặt anh mặc dầu anh đã tỏ ra hết sức kiên trì trong suốt mấy tháng trời sau khi phiên tòa kết thúc. Anh thở dài! Anna sống theo nguyên tắc của cô, tự dựng nên những tiêu chuẩn của riêng mình. Cô ấy đang muốn tiêu diệt tất cả những ai đã từng gây đau khổ cho cô ấy. 



Một tháng sau, một công ty luật ở Cape Town có tên là McCullum and Robb liên hệ với anh với tư cách là người trung gian, đề xuất một giá khá hời để mua lại dịch vụ cơ khí của anh. 



- Đừng bán, - luật sư của anh khuyên. - Anh sẽ kiếm được một gia lài kếch sù với dịch vụ này đấy. 



Nhưng mối quan tâm của Simon chỉ là trang trại chứ không phải là gia tài kếch sù. Anh đi tới Ngân hàng Đất đai và thu xếp để vay thêm số tiền còn thiếu rồi lái xe thẳng tới Goedgeluk. 










* * 






Tới mùa xuân thì quyền sở hữu trang trại thực sự thuộc về Simon. Đó là một ngày tuyệt vời mà chắc chắn anh sẽ không quên trong suốt phần đời còn lại. Sương mù lóng lánh bay lan khắp không gian; những bông hoa dại nở bừng sắc thắm trên những khoảng đất trống; một con linh dương xám từ trong trảng lao ra chạy vụt vào khe núi; những con gà giống Ghi-nê chạy tung tăng quanh các gốc rạ, chim bồ câu cất tiếng hót véo von trên những ngọn cây cao. 



Simon bước đi nhẹ nhàng và bẽn lẽn như một cậu bé con lần đầu tiên được đặt chân vào cổng nhà thờ. Đây là mảnh đất thiêng và nó là của anh, anh đã mua được nó bằng chính sức lao động của đôi bàn tay mình. Tất cả những giấc mơ của anh, những hy vọng và hoài bão của anh vậy là trở thành hiện thực trong cái ngày đẹp trời hôm đó. 



- Ông ấy điên mất rồi, - Anna thốt lên khi Acker thông báo cho cô biết tin này. - Cha con lúc nào cũng cư xử như một người điên. Ông ấy đang ngồi trên một mỏ vàng với loại dịch vụ đó; ông ấy sẽ chẳng kiếm được nhiều như thế nếu quay về với ruộng đồng. Rồi ông ấy sẽ lại bị trắng tay mất thôi. Khi mà Simon được sở hữu một mảnh đất nào đó thì ông ấy lại nhanh chóng trở thành nô lệ của chính mảnh đất ấy. 



- Cha không điên đâu mẹ ạ, cha là một người nông dân cơ mà. - Acker nói. 



- Nông dân! Ha! Một người nông dân thì phải làm ra được của cải từ đất, nhưng cha con chỉ chuyên làm điều ngược lại. 



- Tốt nhất là cứ để cho cha thử lại xem sao. - Acker nghiêm trang trả lời. - Dù sao thì con cũng sẽ tới đó giúp cha một vài hôm. Mẹ ở nhà một mình liệu có ổn không hả mẹ? 



- Tất nhiên là ổn rồi. - Mắt Anna quắc lên. 



- Chà, mẹ biết là sẽ tìm được con ở đâu khi mẹ cần rồi nhé. - Cậu nói chẳng ăn nhập vào đâu cả. 










* * 






Hai hôm sau, vào buổi sáng, con ngựa đực giống Palomino của Acker như bị phát điên, cắn Jacob khi ông ta đang cho nó ăn và đá văng ông ta ra khỏi chuồng. Khi Jacob cố gắng gìm nó lại thì nó chồm lên cả người ông ta khiến ông ta ngã lăn ra đất. Ông ta nhổm dậy, tập tễnh bước về nhà tìm sự giúp đỡ. Nhưng khi ông ta gõ vào cửa phòng của Anna thì không có tiếng trả lời. 



- Chắc lại là một cơn tức giận nữa rồi. - Bà đầu bếp Nella thở dài. Rồi bà gọi điện tới một trại ngựa trong vùng và yêu cầu họ cử một tay luyện ngựa tới Fontainebleu. 



Pat McGregor, bà chủ của trại ngựa, nhìn quanh tìm một ai đó để cử đi và trông thấy Margaret đang chải lông cho một con ngựa cái cứng đầu cứng cổ.



- À đây, cháu không phải là nhân công của trại ngựa, nhưng cháu hãy tới đó giúp họ đi. Mọi người đang bận hết cả rồi. Một con ngựa đã đá văng cả người giữ và không ai dám lại gần nó nữa. Bác cũng chẳng hiểu tại làm sao mà những người này lại đi nuôi ngựa một khi họ không có khả năng trông nom chúng cơ chứ. 



- Ồ không đâu, họ trông nom ngựa giỏi lắm. - Margaret đáp. - Acker Smit là một tay lão luyện, cả bác lẫn cháu đều biết rõ điều đó mà. 



- Đúng vậy, nhưng mà cậu ấy cứ đi đâu ấy chứ, trong khi mẹ cậu ta thì gần như gàn gàn dở dở từ sau ngày cô con gái bỏ đi mất. Bà ấy tự nhốt mình trong phòng, chẳng bao giờ ra ngoài cả. - Pat cau mày. - Người đầu bếp phải gọi điện tới. Bàta nói con ngựa ấy lại tấn công một con ngựa khác nữa, nhưng bà ta không muốn gọi một bác sĩ thú y vì thấy chưa cần thiết. Cố gắng nhé. Margaret, họ sẽ trả công cho cháu. 



Thật là hay. Số tiền để dành của Margaret còn quá ít ỏi, mà cô bé vẫn muốn trở thành một thầy thuốc thú y. Khi cô tới Fontainebleu, người làm vườn dẫn cô vào bếp nơi bà nấu bếp đã sai người chuẩn bị cho cô một tách cà phê. Jan quanh quẩn gần đó lén lút nhìn cô bé. 



- Họ cần một người đàn ông trẻ hơn để trông nom chuồng ngựa. - ông bảo với cô. - Thường thì ông chủ và Franz vẫn làm mọi việc, nhưng chúng tôi không biết đến bao giờ thì họ mới trở về. 



- Này, - Nella gọi người hầu gái khi cô ta định đặt chiếc khay có tách cà phê xuống bàn. - Mày hãy đưa cô đây sang phòng khách và mời cô ấy uống cà phê đi. - Quay sang Margaret bà nói tiếp. - Chúng tôi cứ tưởng họ sẽ cử đến đây một tay luyện ngựa cơ, cô hiểu không? 



- Cháu xin phép. - Margaret nói. - Cháu ngồi đây được mà. 



Nhưng trông họ có vẻ ngượng ngập và lúng túng nên cô đành phải để cho người hầu gái dẫn mình ra khỏi bếp. Hai người đi dọc dãy hành lang vắng vẻ. Đó quả là một nơi tối tăm và quạnh quẽ, rèm cửa kéo kín, mùi ẩm mốc và vẻ trống trải ngự trị ở khắp mọi nơi. Chẳng giống một chút nào với những hình ảnh mà cô còn nhớ về Fontainebleu những năm xưa nữa. Bức chân dung của Anna treo phía trên lò sưởi đang quắc mắt nhìn cô như cảnh cáo cô không được xâm phạm. Margaret vội vã uống hết tách cà phê rồi đi ra. 



Ở chuồng ngựa, cô bé phát hiện ra một con ngựa cái trong đàn đang động đực. Chú ngựa giống kia đang cố hết sức để phá tung cánh cổng dẫn vào chuồng của con ngựa cái. Trong tình trạng này, gã ngựa trông mới xấu xí làm sao, Margaret nghĩ ngợi, mắt theo dõi nó với vẻ hết sức thận trọng. Nhưng chỉ cần một cú đánh nhẹ vào mông, con ngựa đực đã bình tĩnh trở lại. Cô bỏ túi xách sang một bên và cuối cùng cũng xoay xở được để tiêm cho nó một mũi giảm đau. Nửa giờ sau đó, nó đã hiền lành trở lại, ngoan ngoãn như một con ngựa bị thiến và cô bé dẫn nó đi dạo một vòng quanh cánh đồng phía bên kia bãi cỏ, nơi vẫn được rào giậu cẩn thận đủ để giữ cho ngựa khỏi chạy lung tung. 



Cô dành hết phần còn lại của buổi sáng để cho đàn ngựa ăn và luyện tập cho chúng. Cô thả bước lang thang khắp trang trại Fontainebleu, kinh ngạc trước vẻ đẹp và sự bề thế của nó. 



Tới bữa trưa, Nella bảo Lena đi gọi Margaret về. Cô bé ngồi ăn một mình trong phòng ăn tối tăm và trống trải. Những tia nắng lốm đốm xuyên qua cánh cửa chớp, nhảy nhót lấp lánh trên những ngọn đèn treo và những món đồ bạc cổ kính tuyệt đẹp. Thế giới của người giàu là một điều gì đó hoàn toàn xa lạ đối với Margaret, nhưng lòng cô lại lấp đầy nỗi khiếp sợ. Nếu mà cô được sống ở một nơi như thế này thì cô sẽ mở tung những cánh cửa sổ, để cho ánh nắng và tiếng cười tràn ngập căn nhà. Không hiểu sao bà van Achtenburgh-Smit lại tự nhốt mình trong một ngày đẹp trời như vậy nhỉ? 



Margaret là một cô gái đơn giản nhưng thẳng thắn, cởi mở và trung thực. Đối với cô, việc giữ mình trong trạng thái căng thẳng là điều không cần thiết; tự nuông chiều mình và để cho tình cảm bột phát ra ngoài là dấu hiệu của sự yếu mềm. Cô không thể kiên nhẫn với những con người như vậy được. 



Bác sĩ tới ngay sau đó và quyết định rằng Jacob phải nằm lại trên giường ít nhất là một tuần, và bởi vì không còn ai có thể chăm sóc đàn ngựa nên Margaret đồng ý tới trang trại hai lần trong một ngày cho đến khi Acker quay về. Vào trưa ngày thứ Sáu, Margaret gặp cậu ở trong sân. Cô đã nói hết những điều mình suy nghĩ về cách cậu điều hành trang trại cũng như đàn ngựa của cậu một cách tỉ mỉ. 



Acker mỉm cười bình tĩnh, chờ cho cơn bực bội khó chịu của cô bé qua đi cậu mới nói: 



- Em bực mình là đúng lắm, còn anh, anh vẫn rất tiếc vì chuyện con chim ưng. 



Cô bé đỏ bừng mặt. 



- Em phải về đây. - Cô bối rối bảo cậu. 



- Thôi, chúng ta hãy nhìn nhận lại nhau một cách sáng sủa hơn đi. Tai nạn xảy ra với Jacob đã đưa chúng ta quay lại với nhau. - Cậu đặt một tay lên vai cô bé và cổ họng Margaret như thắt lại. Cô vẫn còn nhớ là mình đã từng tôn thờ Acker tới mức nào. 



- Em không có thời gian, xin lỗi. - Cô nói một cách dứt khoát rồi vội vã bỏ đi. 



Margaret đã làm cho Acker phải ngạc nhiên một cách thích thú: từ một đứa trẻ béo lùn ngày trước giờ cô bé đã lớn phổng lên, trở thành một thiếu nữ rất có năng lực. Trông cô ấy trang nghiêm, trung thực và có vẻ rất cứng cỏi nữa. Người như thế mà có gặp tai họa thì chắc chắn chẳng cần đến thuốc giảm đau hay thuốc ngủ, và cũng sẽ chẳng thù oán ai bao giờ. Khó ai có thể cho cô là đẹp, mặt cô quá vuông, quá góc cạnh, làn da cũng lắm tàn nhang, khổ người lại quá cao lớn. Nhưng cặp mắt của Margaret mới to và đẹp làm sao, thậm chí ngay cả trong lúc giận dữ trông cô vẫn có một nét gì đó thật hóm hỉnh. Cậu cảm nhận được cả những cảm xúc cố giấu trong bản tính của cô gái. Một cách rất tự nhiên, cậu thấy thích Margaret và muốn được kết bạn với cô. Trong suốt mười ngày sau đó cậu liên tục gọi điện tới tìm Margaret nhưng lần nào cũng bị cô từ chối gặp mặt. Cuối cùng, cậu quyết định đi tới trại ngựa vào chiều thứ Bảy và tìm thấy cô đang luyện ngựa trong bãi cỏ. 



Margaret tỏ vẻ khó chịu khi nhìn thấy Acker ngồi vắt vẻo trên dãy hàng rào, và cô vui mừng vì mình đang có một vẻ ngoài thật thậm tệ. Sau năm tiếng đồng hồ luyện ngựa mải miết, giờ khắp người cô phủ đầy bụi bẩn và mồ hôi chảy ra ròng ròng làm quần áo cô ướt sũng vì hôm đó là một ngày mùa xuân đặc biệt ấm áp. 



- Mấy giờ thì em xong việc? - Cậu gọi to. 



Cô nhún vai. 



- Khi nào chẳng còn ai ở lại đây nữa. - Rồi cô quay đi, không thèm đếm xỉa gì tới Acker trong suốt phần còn lại của buổi chiều hôm đó. Nhưng cho tới lúc hoàng hôn buông xuống và Margaret đang tỉ mẩn chải lông cho lũ ngựa thì cô bắt gặp Acker giữa những dãy chuồng đang mải mê xem xét con Ponly. 



- Con này lẽ ra phải loại khỏi chuồng từ lâu rồi mới phải. - Cậu nói. - Nó bao nhiêu tuổi rồi? 



- Em không biết, có lẽ là hai mươi. Từ lần đầu tiên em tới nơi này em đã thấy nó già lắm rồi. Nhưng Pat không bao giờ loại con ngựa nào ra khỏi chuồng cả, bác ấy bán chúng cho nhà máy để làm thức ăn cho súc vật. Em đã phải tốn công lắm mới thuyết phục được bác ấy giữ nó lại đây thêm một thời gian nữa. Em biết như vậy là tàn nhẫn, nhưng nó không còn được luyện tập thường xuyên. Chỉ ba lần trong một tuần thôi. 



- Nó đang bị bệnh viêm khớp. 



- Ồ vâng, em biết, em biết. Chúa ơi, thật là kinh khủng. - Cô ngồi xuống bậu cửa. - Ôi, giá mà em có đủ tiền thì em sẽ mua nó chứ không để cho người ta giết hại nó đâu. Những người giàu, họ cần thêm tiền để làm gì nhỉ? Em không hiểu nổi. 



- Chắc nó cũng chẳng đáng giá là bao. - Acker buồn rầu nhìn chăm chăm vào con ngựa già. - Bán nó thì được bao nhiêu tiền vậy? 



- Em nghĩ là khoảng mười bảng. 



- Hai mươi rand chứ. Bây giờ người ta toàn tính thế, em lỗi thời quá. 



- Ô, em quên. - Cô mỉm cười buồn bã. - Hai mươi rand, nghe có vẻ như không nhiều lắm, nhưng em lại chẳng có chỗ để mà nuôi nó. 



- Dạo này em làm gì? Em đã học xong chưa nhỉ? 



Cô gật đầu. 



- Em đánh vật để kiếm tiền. Mẹ em muốn em làm cô giáo dạy trẻ, nhưng em lại muốn mình thành bác sĩ thú y. Trong khi chờ đợi em tới đây làm việc kiếm tiền để dành, nhưng chắc phải nhiều năm nữa em mới có đủ tiền mà mình cần. 



Acker nhe răng ra cười: 



- Em thật là người sống có hoài bão. 



Cậu đứng lên và bước ra khỏi chuồng ngựa. Margaret đi theo, bị gây ấn tượng mạnh bởi dáng vẻ hiền lành của cậu. 



- Anh đến để mời em đi ăn tối, - cậu nói tiếp. - Đừng có mà từ chối đấy nhé. Chúng ta đã từng là bạn bè của nhau cơ mà. Vậy tại sao chúng ta không nối lại tình bạn đó? 



- Em xin lỗi, nhưng em đã có một cuộc hẹn. - Cô đáp và quay đi chỗ khác, nhưng khi liếc nhìn lại phía Acker, thấy cậu có vẻ rất ngạc nhiên thì cô buột miệng hỏi. - Anh không tin là em có hẹn à? 



- Chà, anh không biết. - Acker nói, trán nhăn lại. Đó là cách cậu thể hiện sự bối rối của mình. 



- Acker này, - Margaret nói tiếp. - Anh phải chấm dứt câu chuyện nhảm nhí này đi thôi. 



- Tại sao lại là câu chuyện nhảm nhí? Tình bạn là một vấn đề cực kỳ nghiêm túc mà. 



- Đúng vậy, nhưng anh và em… ý em muốn nói là.. như vậy thì thực là lố bịch. Chúng ta bây giờ không còn là những đứa trẻ nữa. Ngoài ra, em còn phải học vào ban đêm và làm việc suốt cả ngày. Em thậm chí còn không có thời gian để ăn nữa ấy chứ. 



Cuối cùng, Acker đành bỏ cuộc và lái xe ra về. Margaret lững thững bước dọc con phố, lòng trĩu nặng vì buồn bã. Nhưng cô còn có thể làm được gì hơn thế nữa, cô lý luận, trong khi không có lấy một bộ váy áo cho ra hồn. Cô chỉ có những bộ đồng phục học sinh là mấy cái quần dài và áo choàng mà thôi, cùng với một đôi giày đế bằng và vài đôi tất trắng. Thật ngu ngốc mới nghĩ tới việc đi ăn tối với một người bạn trai. Margaret buồn rầu trong suốt mấy ngày sau đó, nhưng không lúc nào cô tỏ ra ân hận với quyết định của mình. Dần dà, cô bắt đầu thấy ghét chính bản thân cô. Hàng đêm, cô thiếp đi vào một giấc ngủ say sau một ngày làm việc cật lực trong chuồng ngựa, và những giấc mơ cửa cô luôn giống hệt nhau: cô là một cô gái mảnh mai xinh đẹp và Acker lúc nào cũng theo đuổi cô, cầu xin cô; và những giấc mơ ấy thường kết thúc bằng một đám cưới vui vẻ. Những gì xảy ra sau đó luôn là điều huyền bí, và cô thức dậy trong một cảm xúc mãnh liệt, mồ hôi túa ra ướt sũng. Cô vùi mặt xuống gối, khóc nức lên thành tiếng vì đau khổ. Kết quả là mặt cô đỏ bừng, mắt cô sưng húp và nhìn vào gương thì cô trông thấy một con bé xấu xí không tài nào yêu nổi. Cô cũng ghét cả dáng người của mình nữa và bắt đầu phải đệm bông vào dưới chiếc áo lót ngay cả trong những ngày nóng nực để che đi hai núm vú chỉ chực đội cả mấy lần áo của cô lên. Cô căm ghét những cơn đau nhói cứ dội lên từ dạ dày mỗi khi có một người đàn ông nào đó vô tình chạm vào người cô, hoặc khi cô bắt gặp một cảnh yêu đương chiếu trên màn hình ngoài rạp chiếu bóng. Làm sao mà cô, một Margaret cứng cỏi đầy nghị lực, lại có thể như vậy được nhỉ? Cô bắt đầu giấu mình vào công việc. 



Một buổi sáng thứ Hai, Pat chờ sẵn ở ngoài cửa chuồng của con Ponty. Margaret cảm thấy có một cục nghèn nghẹn chặn lấy cổ họng khi cô trông thấy Ponty bị dẫn tới một cái cũi. 



- Anna không phải là người gàn dở duy nhất ở Fontainebleu. - Pat bảo với cô. - Cậu con trai Acker của bà ta đề nghị được mua con Ponty này. Cậu ta nói rằng sẽ khai trương một xưởng sản xuất thức ăn gia súc cạnh tranh với cái xưởng mà từ trước tới nay ta vẫn bán ngựa già cho họ. - Bà ta ném một cái nhìn sắc sảo về phía Margaret lúc này đang đau khổ nhìn Ponty, cố gắng giấu đi cảm xúc thực của mình. 



- Nghe này Margaret, đó không phải là việc của bác, nhưng suy cho cùng thì bác cũng đã biết cháu từ lâu rồi. Cháu hãy dứt khoát với cậu ta đi, đừng tự hành hạ mình thế nữa. - Margaret nhìn bà trừng trừng nhưng Pat vẫn nói tiếp - Acker có tất cả mọi thứ, cậu ta đẹp trai, giàu có, thông minh. Cậu ta đã làm tan nát vô số những trái tim của các cô gái trong vùng rồi đấy. Bác không biết tại làm sao cậu ta lại cứ mất thời gian với cháu như vậy, nhưng bác cho rằng cuối cùng rồi cháu sẽ đau khổ hơn thôi. Cái lũ đàn ông là thế mà, đểu giả như nhau hết, - bà ta vội vã nói thêm, - nhất là bọn nhà giàu. 



Rồi Pat bỏ đi, bỏ mặc Margaret ở lại một mình, người run bắn lên vì xúc động.