Kẻ May Mắn - Chương 16 phần 1

Elizabeth là một vũ công giỏi hơn nhiều so với cô tự nhận, nhờ đó mà anh cảm thấy dễ dàng hơn. Nhưng phần tuyệt nhất khi khiêu vũ với cô là “điện tích” anh cảm nhận được mỗi khi họ chạm vào nhau và mùi hương của cô khi anh xoay cô ra ngoài vòng tay của mình, một hỗn hợp giữa mồ hôi và nước hoa. Tóc cô rối tung lên trong không khí ẩm ướt, làn da cô lấp lánh mồ hôi, trông cô thật tự nhiên và cuồng nhiệt. Cứ thỉnh thoảng cô lại nhìn xoáy vào anh khi cô xoay tròn, môi cô nở một nụ cười đầy ẩn ý, như thể cô biết chính xác mình có ảnh hưởng thế nào đến anh vậy.

Khi ban nhạc quyết định nghỉ một lát, phản xạ tự nhiên của anh là rời sàn nhảy cùng mọi người, nhưng Elizabeth đã ngăn anh lại khi bản nhạc “Unforgettable” của Nat King Colevachiếc loa. Cô nhìn thẳng vào mắt anh, và anh biết mình phải làm gì.

Anh im lặng đặt một tay lên thắt lưng cô, tay kia nắm lấy tay cô nâng lên. Anh nhìn cô chăm chú trong lúc kéo cô lại gần, và chậm râi, họ bắt đầu chuyển động theo điệu nhạc, xoay những vòng thật chậm.

Thibault không nhận thy quanh họ các cặp đôi khác đang tiến lại sàn nhảy. Khi nhạc nền cất lên, Eikabeth ngả vào người anh thật gần đến nỗi anh có thể cảm thấy từng nhịp thở chậm rãi của cô. Anh nhắm mắt lại khi cô tựa đầu lên vai mình, và trong khoảnh khắc đó, cả thế giới này chẳng còn gì ý nghĩa nữa. Không bài hát, không sàn nhảy, không người xung quanh. Chỉ còn cô đang tựa đầu trên vai anh. Anh cảm nhận cơ thể cô đang ép vào người anh, và họ di chuyển chậm rãi thành từng vòng tròn nhỏ trên sàn gỗ lấm tấm mùn cưa, đắm chìm trong cái thế giới tưởng như được tạo ra chỉ để cho hai người.

Khi họ lái xe về nhà trên con đường tối đen, Thibault cầm tay Beth và cảm nhận ngón tay cái của cô mân mê da anh trong bầu không khí lặng yên.

Lúc xe tiến vào sân nhà mình thì đã gần mười một giờ, Zeus vẫn đang nằm ngoài hiên và nghểnh đầu lên khi Thibault tắt động cơ. Anh quay lại nhìn cô.

“Tối nay thật tuyệt vời đối với anh,” anh thì thầm. Anh nghĩ cô sẽ nói điều tương tự, nhưng câu trả lời của cô lại khiến anh bị bất ngờ.

“Anh không định mời em vào sao?” cô gợi ý.

“Có chứ,” anh nói.

Zeus ngồi dậy khi Thibault mở cửa xe cho Elizabeth và đứng yên khi cô bước xuống. Đuôi nó bắt đầu lúc lắc.

“Ê, Zeus,” Elizabeth gọi.

“Ra đây nào,” Thibault ra lệnh, và con chó nhảy phóc từ hiên nhà xuống, chạy lại phía họ. Nó chạy vòng quanh hai người, sủa mà nghe cứ như đang rít. Mõm nó không há hẳn mà giống kiểu đang nhe răng cười toe toét để lôi kéo sự chú ý của cả hai vậy.

“Nó nhớ chúng ta,” cô vừa nói vừa cúi người xuống thấp. “Phải vậy không, cậu bé lớn xác?” Khi Beth cúi xuống, Zeus liền liếm liếm mặt cô. Đứng thẳng người lại, cô chun mũi rồi lau mặt. “Ghê quá.”

“Cu cậu không thấy ghê đâu,” Thibault nói. Anh bước lại chỗ bậc thềm. “Sẵn sàng chưa? Anh phải dặn trước là đừng trông đợi quá nhiều đấy.”

“Tủ lạnh nhà anh có bia chứ?”

“Có.”

“Vậy thì đừng lo.”

Họ bước lên cầu thang. Thibault mở cửa và bật công tắc. Một chiếc đèn cây tỏa ánh sáng mờ mờ qua cái ành nom rất thoải mái gần cửa sổ. Ở giữa phòng là bàn uống nước chỉ được trang trí bởi một cặp nến; đối diện là một cái đi văng. Cả ghế bành và đi văng đều được bọc vải xanh nước biển tiệp màu với nhau, và đằng sau là giá sách với một bộ sưu tập sách nho nhỏ. Ngoài những thứ đó ra, trong phòng chỉ còn một cái giá để tạp chí trống không cùng với một cái đèn cây khác.

Và nó rất sạch sẽ. Thành quả của buổi sáng Thibault hùi hụi hút bụi, lau sàn gỗ, rửa sạch các cửa sổ. Anh ghét sự lộn xộn và bẩn thỉu. Bụi bặm triền miên ở Iraq đã làm tăng xu hướng ưa ngăn nắp và trật tự của anh.

Elizabeth nhìn phòng khách một lượt rồi mới bước vào.

“Em thích căn phòng này đây,” cô nói. “Anh mua mấy thứ đồ đạc này ở đâu vậy?”

“Nó có sẵn trong nhà luôn.”

“Điều này giải thích cho những tấm vải bọc ghế.”

“Chính xác.”

“Không ti vi?”

“Không.”

“Không đài?”

“Không.”

“Thế anh làm gì khi ở đây?”

“Ngủ.”

“Và?”

“Đọc.”

“Tiểu thuyết?”

“Không,” anh nói, rồi nghĩ lại. “Thật ra cũng có vài cuốn. Nhưng chủ yếu là sách về các danh nhân và về lịch sử.”

“Không có về nhân loại học?”

“Anh có một quyển của Richard Leakey,” anh nói. “Nhưng anh không thích những cuốn nhân loại học mang phong cách của chủ nghĩa hậu hiện đại đang tràn ngập thị trường; và dù sao thì cũng khó mà thấy những cuốn sách như vậy ở Hampton.”

Cô đi quanh các đồ đạc, di ngón tay dọc theo thành ghế. “Ông ấy viết về cái gì?”

“Ai? Leakey ấy hả?”

Cô mỉm cười. “Vâng. Leakey.”

Anh mím môi, sắp xếp lại suy nghĩ. “Nhân loại truyền thống chủ yếu đề cập đến năm lĩnh vực: con người bắt đầu được sinh ra khi nào, họ bắt đầu đi ở tư thế thẳng khi nào, vì sao lại có rất nhiều tộc người, những tộc người này vì sao lại phát triển và phát triển như thế nào, và tất cả những cái đó có ý nghĩa như thế nào đối với lịch sử tiến hóa của con ời hiện đại. Sách của Leakey hầu như chỉ nói về bốn vấn đề cuối, đặc biệt nhấn mạnh việc sản xuất công cụ lao động và vũ khí đã tác động thế nào đến sụ tiến hóa của người thông minh.”

Cô không giấu nổi sự thích thú, và anh có thể thấy là cô bị ấn tượng.

“Thế còn bia thì sao nhỉ?” cô hỏi.

“Anh sẽ quay lại ngay, cứ tự nhiên nhé.”

Anh trở lại với hai chai bia và một bao diêm. Elizabeth đang ngồi trên chiếc đi văng; anh đưa cô một chai rồi ngồi xuống cạnh cô, để bao diêm lên bàn.

Ngay lập tức cô cầm bao diêm lên châm một que, ngắm nghía ngọn lửa nhỏ lung linh. Bằng một cử động khéo léo, cô châm lửa vào bấc nến, thắp sáng cả hai ngọn nến, rôi thổi tắt que diêm.

“Hi vọng anh không phiền. Em thích mùi thơm của nến.”

“Không hề.”

Anh tắt đèn đi. Căn phòng giờ đây chỉ còn sáng lờ mờ nhờ ánh nến. Khi quay lại đi văng, anh ngồi xuống gần cô hơn, ngắm cô lúc ấy đang chăm chú nhìn ngọn lửa, khuôn mặt nửa sáng nửa tối. Anh nhấp một ngụm bia, tự hỏi cô đang nghĩ gì,

“Anh có biết đã bao lâu rồi kể từ khi em ngồi một mình trong một căn phòng thắp sáng bằng nến với một người đàn ông không?” cô nói, quay sang nhìn anh.

“Không.”

“Đó là một câu hỏi bẫy. Câu trả lời là chưa bao giờ.” Cô có vẻ tự thấy thú vị bởi ý tưởng của mình. “Kỳ quặc phải không? Em đã cưới, có một đứa con, em đã hẹn hò, vậy mà chưa bao giờ làm việc này.” Cô ngập ngừng. “Và nếu anh muốn biết sự thật thì đây là lần đầu tiên em ở một mình với một người đàn ông tại nhà người đó kể từ ngày em ly dị.” Giọng cô thoáng chút ngượng ngùng.

“Nói em nghe điều gì đó đi,” cô nói, mặt cô gần sát mặt anh. “Anh sẽ mời em vào nhà nếu em không tự mời mình chứ? Trả lời thành thật nhé. Anh nói dối là em biết liền.”

Anh xoay xoay chai bia. “Anh không chắc.”

“Tại sao?” cô hỏi dồn. “Em có gì mà...”

“Hoàn toàn không phải ở em,” anh ngắt lời. “Chủ yếu là vì bà Nana và những gì bà có thể nghĩ.”

“Vì bà là sếp anh à?”

“Vì bà là bà của em. Vì anh kính trọng bà. Nhưng chủ yếu là vì anh tôn trọng em. Hôm nay anh đã có một buổi tối tuyệt vời. Trong suốt năm năm qua, anh không thể nhớ ra mình từng đi với ai mà lại vui hơn thế nữa.”

“Vậy mà anh vẫn không định mời em vào nhà.” cô có vẻ không hiểu.

“Anh không nói vậy. Anh chỉ nói anh không chắc.”

“Thế nghĩa là không còn gì.”

“Nghĩa là đúng lúc anh đang tìm cách mời em vào mà không làm em cảm thấy bị xúc phạm thì em lại đi trước một bước. Nhưng nếu thật sự điều em muốn hỏi là anh có muốn mời em vào không thì câu trả lời là có, anh có muốn.”

Anh chạm đầu gối mình vào đầu gối cô. “Toàn bộ chuyện này bắt đầu từ đâu vậy?”

“Cứ cho là bắt đầu từ việc em không có nhiều may mắn trong thế giới hẹn hò đi.”

Anh hiểu là mình nên im lặng, nhưng khi nhấc tay lên, anh cảm nhận được cô đang dựa vào anh. “Lúc đầu em không bận tâm lắm,” cuối cùng cô lên tiếng. “Ý em là, em đã quá bận với Ben và trường học, nên em không để tâm nhiều vào chuyện ấy. Nhưng về sau, khi tình cảnh đó kéo dài, em bắt đầu tự hỏi. Em tự hỏi về chính mình. Và em tự hỏi mình những câu điên rồ này. Mình có đang làm gì sai không? Mình có đang thiếu để tâm đến chuyện này không? Mình bốc mùi gì kỳ cục à?” Cô cố mỉm cười, nhưng vẫn không thể giấu được nỗi buồn và sự nghi hoặc ẩn chứa bên trong. “Như em đã nói đấy, những câu hỏi điên rồ. Vì thi thoảng, có thể em gặp gỡ một người và nghĩ rằng bọn em hợp nhau, và rồi đột nhiên em chẳng thấy tăm hơi anh ta đâu nữa. Không chỉ là anh ta không gọi điện nữa, mà là nếu em tình cờ gặp anh ta sau này, anh ta xử sự cứ như thể em là một kẻ mang bệnh dịch. Em không hiểu. Đến giờ vẫn không hiểu. Và điều đó làm em buồn. Làm em tổn thương. Rồi thời gian qua đi, càng ngày càng khó để trách cứ họ, và cuối cùng em đi đến kết luận là chắc mình có gì đó không ổn. Có thể đơn giản là số em phải sống một mình.”

“Em chả có gì không ổn hết,” anh siết nhẹ cánh tay cô để trấn an.

“Cứ cho em một cơ hội. Em cam đoan anh sẽ tìm thấy điều gì đó thôi.”

Thibault có thể cảm nhận được vết thương lòng ẩn dưới câu nói đùa đó. “Không,” anh khẳng định. “Anh không nghĩ là mình sẽ tìm ra.”

“Anh thật ngọt ngào.”

“Anh nói thật.”

Cô mỉm cười nhấp một ngụm bia. “Đa phần thôi.”

“Em không nghĩ anh nói thật sao?”

Cô nhún vai. “Như em vừa nói. Đa phần thôi.”

“Nghĩa là thế nào?”

Cô đặt chai bia xuống bàn và sắp xếp lại suy nghĩ. “Em nghĩ anh là một người tuyệt vời. Anh thông minh, anh làm việc chăm chỉ, là người tốt, và anh thân thiết với Ben. Em biết đều đó, hoặc ít nhất thì em nghĩ em biết, dựa trên những gì em thấy. Nhưng những điều anh không nói ra làm em băn khoăn về anh. Em tự nhủ rằng em biết về anh, nhưng khi ngẫm lại, em lại thấy không phải. Anh như thế nào hồi ở đại học? Em không biết. Sau đó thì sao? Em không biết. Em biết anh đến Iraq và em biết anh đi bộ đến đây từ Colorado, nhưng em không biết vì sao. Khi em hỏi, anh chỉ nói rằng ‘Hampton có vẻ là một nơi dễ chịu.’ Anh là một người thông minh tốt nghiệp đại học, nhưng anh đồng ý làm việc với mức lương tối thiểu. Khi em hỏi tại sao, anh trả lời rằng anh yêu chó.” Cô vuốt tóc. “Vấn đề là, em cảm thấy anh đang nói thật. Chỉ là anh không nói hết. Và phần anh đã bỏ sót là phần sẽ giúp em hiểu rõ hơn anh là ai.”

Nghe cô nói, Thibault cố gắng không nghĩ về những điều đã không nói với cô. Anh biết mình không thể nói với cô mọi chuyện; anh sẽ không bao giờ nói hết mọi chuyện. Cô sẽ không hiểu được, vậy nhưng... anh muốn cô biết con người thật của anh. Trên tất cả, anh muốn được cô chấp nhận.

“Anh không nói về Iraq vì anh không muốn nhớ lại thời gian ở đó,” Anh nói.

Cô lắc đầu. “Anh không phải nói với em nếu anh không muốn...”

“Anh rất muốn chứ,” anh nói nhỏ. “Anh biết em hay đọc báo, nên em hoàn toàn có thể hình dung được nơi đó thế nào. Nhưng không phải như em tưởng tượng, và anh cũng thật sự không có cách nào khiến nó trở nên thật nhất cho em. No là một cái gì đó em phải tự trải nghiệm. Ý anh là, hầu hết thời gian không đến nỗi tồi tệ như em có thể nghĩ. Nhiều lúc - hầu như mọi lúc - mọi việc ổn cả. Với anh thì dễ dàng hơn với người khác, vì anh không có vợ con gì hết. Anh có bạn bè, anh có công việc hằng ngày. Hầu như lúc nào cũng có việc để làm. Nhưng đôi khi nó lại khủng khiếp. Rất khủng khiếp. Đủ để khiến anh muốn quên đi hoàn toàn việc anh đã từng ở đó.”

Cô im lặng trước khi hít một hơi dài. “Và anh đến Hampton này vì những gì đã trải qua ở Iraq?”

Anh cạy nhãn chai bia, chậm rãi bóc ra và cào thủy tinh bằng móng tay. “Theo một nghĩa nào đó,” anh nói.

Cảm thấy sự ngập ngừng của anh, cô đặt bàn tay lên tay anh. Hơi ấm của nó dường như phần nào xoa dịu đi cảm giác gì đó trong anh.

“Victor là bạn thân nhất của anh ở Iraq,” Thibault bắt đầu kể. “Cậu ấy đã chiến đấu cùng anh tất cả ba lần. Đơn vị của anh bị thương vong rất nhiều, và cuối cùng, anh đã sẵn sàng để những ngày đó lại phía sau. Và anh hầu như đã thành công, nhưng đối với Victor, mọi chuyện không dễ dàng gì. Cậu ấy không thể thôi nghĩ về nó. Sau khi giải ngũ, bọn anh mỗi người một ngả, cố gắng hòa nhập lại với cuộc sống. Cậu ấy về nhà ở California, anh trở lại Colorado, nhưng bọn anh vẫn cần nhau, em hiểu không? Nói chuyện qua điện thoại, gửi email và cùng giả vờ rằng cả hai đều đã quên được cái sự thật là, trong khi bọn anh dành bốn năm cuối để ngày qua ngày cố gắng không bị giết thì ở nhà lại cư xử như thể thế giới sẽ kết thúc nếu họ mất chỗ ở bãi đậu xe, hay bị mang nhầm đồ uống ở Starbucks. Dù sao, bọn anh cũng đã quyết định gặp lại nhau để đi câu cá ở Minnesota...”

Bỗng nhiên anh im bặt, không muốn nhớ lại chuyện đã xảy ra, nhưng biết rằng mình phải nhớ. Anh uống một ngụm bia dài rồi để chai lên bàn.

“Đó là mùa thu năm ngoái, và anh... anh đã rất vui được gặp lại cậu ấy. Bọn anh không nói về thời gian ở Iraq, và bọn anh cũng không cần phải nói. Dành vài ngày với một người hiểu những gì từng trải qua cùng nhau là đủ cho cả hai bọn anh. Victor, cho tới lúc đó, đã ổn hơn. Không phải là tốt, nhưng ổn. Cậu ấy đã có vợ và sắp có con, và anh còn nhớ lúc đó anh rất tin tưởng rằng cậu ấy rồi sẽ ổn, cho dù thỉnh thoảng cậu ấy vẫn bị ác mộng và ký ức ám ảnh.”

Anh nhìn cô với ánh mắt thể hiện một cảm xúc mà cô không thể gọi tên.

“Vào ngày cuối cùng, bọn anh đi câu từ sáng sớm. Chỉ hai người bọn anh trên chiếc thuyền chèo tay, và khi bọn anh chèo ra giữa hồ, mặt hồ vẫn còn phẳng lặng như gương, cứ như bọn anh là những người đầu tiên làm xáo trộn mặt nước. Anh nhớ có thấy một con chim ưng bay qua hồ, hình ảnh phản chiếu lướt đi ngay dưới nó, và anh nghĩ rằng mình chưa bao giờ nhìn thấy thứ gì đẹp hơn thế.” Anh lắc đầu hồi tưởng lại. “Bọn anh đã định kết thúc buổi đi câu trước khi mọi người kéo đến quá đông; sau đó sẽ đến thị trấn làm vài cốc bia và ăn thịt nướng. Chút kỉ niệm để kết thúc cuộc du ngoạn. Nhưng bọn anh quên cả thời gian và cứ thế lênh đênh trên hồ quá lâu.”

Anh bắt đầu bóp trán, cố gắng giữ bình tĩnh. “Anh đã nhìn thấy chiếc thuyền m từ trước. Anh không biết tại sao mình lại để ý đến nó giữa những cái khác. Đó là một bản năng, và có thể nó có liên quan tới thời gian ở Iraq. Nhưng anh nhớ là đã tự nhắc mình để mắt đến họ. Tuy nhiên, điều này rất lạ. Không phải họ đang làm gì bất thường so với những người trên các con thuyền khác. Chỉ là vài thiếu niên đang chơi đùa lướt sóng. Có sáu người trên con thuyền đó - ba trai và ba gái - và em có thể tin rằng tới đó để vui chơi lần cuối trên mặt nước khi mà thời tiết vẫn còn đủ ấm.”

Khi tiếp tục, giọng anh khàn khàn. “Anh nghe thấy nó đến gần, và anh biết bọn anh sẽ gặp rắc rối ngay cả trước khi anh nhìn thấy nó. Một âm thanh đặc biệt phát ra từ động cơ khi nó vòng lại phía bọn anh như tên bắn. Nhanh đến mức mà tiếng động phát ra từ động cơ dường như chỉ chậm hơn so với nó một phần nghìn giây, làm cho não chỉ có thể nhận thức được tình hình nguy hiểm bằng tiềm thức. Anh chỉ có đủ thời gian đầu lại để nhìn thấy mũi tàu lao về phía bọn anh với tốc độ gần năm mươi ki lô mét một giờ.” Anh ép chặt các ngón tay vào nhau. “Khi đó, Victor đã nhận thấy việc gì đang xảy ra, và anh vẫn còn nhớ vẻ mặt cậu ấy - một sự kết hợp khủng khiếp giữa sợ hãi và ngạc nhiên - chính xác là vẻ mặt của các bạn anh ở Iraq trước khi họ chết.”

Anh chầm chậm thở ra. “Chiếc thuyền máy lao thẳng đến chỗ bọn anh. Nó va vào đầu Victor và giết cậu ấy ngay lập tức. Một phút trước bọn anh còn tán gẫu chuyện cậu ấy hạnh phúc thế nào khi cưới vợ, và ngay sau đó, cậu bạn thân của anh - người bạn thân nhất anh từng có - đã chết.”

Elizabeth đặt tay lên đầu gối Logan và siết chặt. Mặt cô tái xanh. “Em rất tiếc...”

Anh hầu như chẳng còn nghe cô nói gì.

“Điều đó thật bất công, em biết không? Sống sót qua ba lần làm nhiệm vụ ở Iraq, sống sót qua tất cả những gì mà bọn anh đã trải qua... để rồi bị giết chết bởi một chuyến đi câu cá? Thật chẳng có nghĩa lý gì. Sau đó, anh không biết nữa, anh khá là hoảng loạn. Không phải về thể chất, mà là tinh thần, giống như anh rơi xuống hố sâu suốt một thời gian dài. Anh chán nản, anh không ăn, anh không thể ngủ hơn vài tiếng một đêm, và có một thời gian anh không thể ngừng khóc. Victor từng thú nhận cậu ấy bị ám ảnh bởi ảo ảnh của những người lính đã chết, và sau cái chết của cậu ấy, anh cũng bị ám ảnh. Đột nhiên, chiến tranh quay trở lại và hiện hữu như chưa bao giờ chấm dứt. Cứ mỗi lần cố gắng ngủ, anh lại thấy Victor hay những cảnh tượng trong những trận chiến bọn anh từng trải qua và anh bắt đầu thấy run rẩy toàn thân. Thứ duy nhất giữ anh khỏi bị điên loạn chính là Zeus.”

Anh dừng lại để nhìn Elizabeth. Bất chấp những ký ức đang ùa về, anh vẫn không khỏi giật mình bởi vẻ đẹp nơi gương mặt cô giữa những lọn tóc xoăn vàng óng ánh.

Gương mặt cô đượm vẻ cảm thông. “Em không biết phải nói gì.”

“Anh cũng vậy.” Anh nhún vai. “Giờ cũng không biết nói gì.”

“Anh biết đó không phải lỗi của anh, đúng không?”

“Ừ,” anh nói khẽ. “Nhưng câu chuyện còn chưa kết thúc ở đó.” Anh đặt tay lên tay cô, biết rằng mình đã đi quá xa để có thể dừng lại rồi.

“Victor thích nói về số phận,” cuối cùng anh mở lời. “Cậu ấy là người rất tin tưởng vào những thứ như vậy, và vào ngày cuối cùng bên nhau, cậu ấy nói rằng anh sẽ biết số phận của anh khi anh tìm thấy nó. Anh không thể gạt bỏ suy nghĩ đó ra khỏi đầu ngay cả khi cố gắng làm vậy. Anh vẫn nghe thấy cậu ấy nói hết lần này đến lần khác, và dần dần, anh nhận ra rằng trong khi còn chưa biết phải tìm số phận mình ở đâu, anh vẫn đinh ninh là sẽ không tìm thấy nóở Colorado. Cuối cùng, anh xếp hành lý và lên đường. Mẹ anh nghĩ anh mất trí. Nhưng qua mỗi bước đi, anh lại thấy mình dần nguyên vẹn. Cứ như cuộc hành trình đó chính là điều mà anh cần để hàn gắn tất cả. Và khi đến Hampton, anh biết mình không phải đi xa hơn nữa. Đây là nơi dành cho anh.”

“Vậy là anh ở lại?”

“Ừ.”

“Còn số phận của anh?”

Anh không trả lời. Anh đã nói với cô nhiều sự thật nhất có thể, và anh không muốn lừa dối cô. Anh nhìn xuống bàn tay cô đang cầm tay anh, và đột nhiên, mọi thứ anh cảm nhận đều sai hết. Anh biết cần chấm dứt chuyện này trước khi nó đi quá xa. Đứng dậy và đưa cô trở lại xe. Nói chúc ngủ ngon và rời Hampton trước khi mặt trời mọc vào sáng mai. Nhưng anh không thể nói những lời đó; anh cũng không thể đứng dậy. Có gì đó giữ lấy anh, anh quay lại phía cô, và bỗng thấy mình như tỉnh giấc mộng dài. Anh đã đi bộ qua nửa đất nước này để tìm người phụ nữ mà anh chỉ biết qua bức ảnh, để rồi kết thúc từ từ, nhưng chắc chắn, bằng tình yêu dành cho một người phụ nữ có thật, nhạy cảm, xinh đẹp, người khiến anh cảm thấy mình được sống theo cách anh chưa bao giờ sống kể từ sau chiến tranh. Anh không hiểu rõ hết, nhưng trong đời mình, anh chưa bao giờ chắc chắn về điều gì hơn thế.

Nét mặt, ánh mắt của cô đủ để cho anh biết cô cũng cảm thấy giống như anh, và anh nhẹ nhàng kéo cô về phía mình. Khi mặt hai người gần sát nhau, anh có thể cảm nhận sức nóng từ hơi thở của cô khi anh chạm nhẹ môi vào môi cô lần đầu tiên, rồi lần thứ hai trước khi gắn chặt vào nó.

Vùi tay trong tóc cô, anh hôn cô bằng tất cả những anh có trên thế gian này, với tất cả những gì anh khao khát. Anh nghe thấy tiếng thì thầm nhẹ nhàng của sự mãn nguyện khi anh ôm cô. Anh hé miệng và cảm nhận lưỡi cô, và bỗng nhiên, anh biết rằng cô đúng là dành cho anh, những gì đang diễn ra đúng là dành cho cả hai người. Anh hôn lên má, rồi lên cổ cô, nhẹ nhàng, rồi hôn môi cô lần nữa. Họ đứng lên khỏi ghế, vẫn ôm nhau, và anh lặng lẽ đưa cô vào phòng ngủ.

Họ hòa vào nhau. Thibault muốn điều này kéo dài đến vô tận, và thì thầm với cô lời yêu đương. Anh cảm nhận cơ thể cô run lên. Rồi cô thu mình dưới cánh tay anh, người cô cuộn lại trong sự mãn nguyện. Họ nói, cười và rúc vào nhau. Sau lần thứ hai, anh nằm bên cô, nhìn vào mắt cô, đưa tay nhẹ nhàng vuốt má cô. Anh thấy những từ ngữ dâng lên trong lòng, những từ anh chưa bao giờ nghĩ mình có thể nói với bất cứ ai.

“Anh yêu em, Elizabeth,” anh thì thầm, biết rằng điều đó đúng về mọi phương diện.

Cô với lấy bàn tay anh, hôn lên từng ngón.

“Em cũng yêu anh, Logan.”