Con Đường Mây Trắng - Chương 5 - Phần 11
QUÁN ĐỈNH LẦN CUỐI
Sau buổi lễ tséwang, lạt ma Phiyang tiếp tục
giảng giải hàng ngày cho chúng tôi và lần cuối cùng ông thực hiện hai buổi lễ
điểm đạo Mật giáo, nó làm trọn vẹn các buổi điểm đạo trước của chúng tôi và mở
ra nhiều khí cạnh khác của phép tu thiền định thuộc về trường phái cổ nhất của
Phật giáo Tây Tạng là Nyingmapa. Nhờ vậy mà chúng tôi hiểu được các dạng xuất
hiện hay các khía cạnh ẩn mật khác nhau của Liên Hoa Sinh.
Trong những cuộc điểm đạo này, tất cả các trung
khu được động viên, một quá trình mà tôi có mô tả một phần trong tác phẩm Cơ
sở đạo học Tây Tạng. Những dạng xuất hiện khác nhau của Liên Hoa Sinh
phụ thuộc nơi mức độ của tâm, từ đó Ngài được nhìn thấy hay chứng thực. Tên
Ngài “sinh từ đóa sen’ đã chứng tỏ cái sinh thành tâm lý xuất phát từ hoa sen,
tức là từ các trung khu, trong phút giây giác ngộ hay thực chứng về Ngài. Sự
chứng ngộ này phải được mỗi đệ tử thực hiện lại, cho tất cả những ai đã được
quán đỉnh vì giáo pháp và con đường dẫn đến giải thoát của Ngài.
Thế nên lạt ma Phiyang không phải chỉ là người
thầy Tây Tạng cuối cùng của chúng tôi mà ông còn cho cái dịp vô song là nắm
được sự toàn thể và hòa điệu của truyền thống Phật giáo Tây Tạng bằng chính
kinh nghiệm của mình - một truyền thống với đặc trưng của bốn dòng lớn
Nyingmapa, Sakyapa, Kargyutpa và Gelugpa, mà mỗi dòng sống Phật giáo đó đóng
góp kinh nghiệm quí báu của mình. Dù cho có vài tu viện lớn tranh nhau về ảnh
hưởng chính trị (một dấu hiệu khó tránh của uy quyền), thì những giá trị có
tính nguyên tắc của các dòng đó vẫn được thừa nhận. Các vị chủ trương đổi mới
như A-đề-sa, Tsongkapa và các vị khác không hề phủ nhận các trường phái cũ mà
chủ trương một sự tổng hợp các giáo phái và chỉ trích những sai trái của tu sĩ
các dòng, những người đã đánh mất trình độ và lý tưởng của mình. Các vị đổi mới
đó chủ trương thiết lập trình độ và lý tưởng của mình. Các vị đổi mới đó chủ
trương thiết lập lại trình độ tu chứng và sự hòa mình toàn diện của mỗi người
vào trong đời sống tâm linh.
Trước khi lạt ma Phiyang ra đi, ông tổ chức một
buổi lễ cúng lửa, lễ sám hối thanh lọc bằng lửa, trong một chừng mực nhất định
nó ngược lại hay cũng có thể nói bổ túc cho tsewang là lễ thanh lọc bằng “nước
thánh”. Lễ này, được gọi là méwang, có hai điều đặc biệt: có sự tham dự bất ngờ
của các địa thần và người tham dự đều nhúng mình trong lửa nhưng không bị
phỏng.
Lễ được cử hành đơn giản nhưng chính xác và gây
ấn tượng. Trong lúc tụng đọc thần chú, lạt ma Phiyang cầm trên tay trái một
bình đựng lửa và tay phải ném bột nhang (làm từ vỏ cây mọc trong vùng) xuyên
qua lửa đang cháy. Bột nhang được ném cháy bùng lên về phía mọi người đang tụ
tập, đưa mọi người vào trong lửa, nhưng nó tắt ngay không gây thiệt hại gì.
Quan trọng là phần đầu của buổi lẽ và trong giai
đoạn này thì các vị địa thần xuất hiện. Lễ này nhằm chống lại và diệt các lực
lượng tối tăm bằng lửa cúng dường, lửa được đốt trên man-đa-la của năm vị Thiền
Phật. Man-đa-la được trình bày trong một đồ hình sáu cạnh, do hai tam giác đều
lồng vào nhau, được bao lại bằng một hình vuông mà bốn góc được bảo vệ bởi đao
trừ tà hình lưỡi liềm với chốt kim cương. Gỗ được chất cẩn thận xung quanh
man-đa-la. Tất cả đều nằm trên một tòa cao trong sân của điện Mani, đó cũng là
tâm điểm của làng. Tòa của lạt ma nằm giữa điện và bàn thờ lửa, mọi người đứng
thành vòng tròn quanh bàn thờ.
Trong phần đầu của buổi lễ, vị lạt ma vẫn ngồi
yên trên tòa, ông đọc thần chú hô triệu thần linh và vung đao trừ tà khắp mọi
hướng. Sau đó ông xuống tòa và đốt lửa, thỉnh thoảng rưới thêm dầu hay bơ vô
lửa, nó cho một ngọn lửa trong không khói. Ông vừa đi quanh đống lửa vừa đọc
thần chú hô triệu với một nhịp điệu nghiêm trang. Dù tuổi đã cao và áo choàng nặng
nề ông vẫn di chuyển với một dáng vẻ uyển chuyển, mỗi bước đi, mỗi cử động đều
hòa với nhịp điệu của thần chú. Giọng tụng rất trầm của ông không bao giờ bị
tán loạn, cử chỉ không bao giờ ngắt quãng, tát cả đều nằm trong một nhịp điệu
đều đặn. Thân ông như có một sức mạnh nâng đỡ, nằm dưới một tình trạng tập
trung không gì lay chuyển được.
Giữa vũ điệu thiêng liêng đó, bỗng nhiên trong
giới người tham dự xuất hiện sự chuyển động, đó là những người ngồi dưới chân
các miếu thờ nằm bên cạnh quãng trường. Bỗng một người cao lớn đứng dậy, tay
chân run rẩy, mắt mở trừng trừng và đi như kẻ mất hồn. Mọi người xung quanh có
vẻ sợ sệt và chúng tôi cảm giác có điều gì bất thường không dự kiến trước xảy
ra- có lẽ có những lực lượng nào vô hình đang tranh đấu với nhau. Phải chăng
sức mạnh tối tăm cảm thấy mình bị thách thức và vùng dậy chống lại năng lực của
ánh sáng? Cử chỉ của người đó ngày càng hung tợn và có ai thì thầm: “Ông bị
thần ám rồi”. Rõ là ông đã bị ám và không ai dám cản khi ông tiến gần tối bàn
thờ lửa, đứng trước mặt lạt ma một cách khiêu khích và giễu cợt, bắt chước làm
theo cử động của vị lạt ma này. Nếu người này phá hỏng buổi lễ thì hậu quả xấu
sẽ xảy ra. Hầu như hai sức mạnh đang đối đầu, đọ sức với nhau. Sự căng thẳng
tăng lên tới mức chịu không nổi.
Thế nhưng vị lạt ma không hề bước sai nhịp, không
ngớt tụng niệm, vẫn đi trong nhịp điệu của mình như không hề bị phá rối; và con
người bị ám đó chỉ là một bóng ma không có thực chất. Bây giờ người này tăng
thêm sức mạnh quấy phá và đưa cho lạt ma một ít vải vụn, giấy vụn mà ông giật
từ miếu thờ, thứ mà nhiều người đem đến để cúng tế. Vị lạt ma tiếp nhận các thứ
đó và cho từng miếng vào lửa.
Như con cọp sổ lồng, người bị ám quay quay về
miếu và lấy hết sức mình táng đầu vào nền đá miếu, máu vọt ra. Thật là một ấn
tượng hãi hùng và chúng tôi lo ngại đầu óc người đó phải vỡ nát. Các người đứng
gần tìm cách ôm lại, không cho ông tự tử, còn các người khác chạy lui chạy tới,
tìm rượu và vũ khí để xoa dịu vị thần linh, vị đã nhập vào ông. Vợ người đàn
ông òa khóc. Tất cả mọi chuyện
hình như xảy ra ngoài sự kiềm tỏa của con người.
Lúc đó thì vũ điệu cúng tế đã dứt và vị lạt ma
giải thích lý do có sự quấy phá. Người ta cho hay các vị địa thần tại đó chống
lại buổi lễ vì từ xưa nay các vị đã ở quãng trường này rồi, trước cả khi Phật
giáo du nhập. Vị lạt ma hiểu ngay vấn đề và đồng ý cho thần linh được nói qua
miệng của người đàn ông nọ, người được xem là đồng cốt cho các vị, để họ nói ý
kiến của mình.
Sau đó thì huy hiệu của các vị được mang tới,
trong dạng những vũ khí khác nhau, người đàn ông được cho một ly rượu. Ông uống
cạn ly, đâm thủng hai má bằng một que sắt và để hai thanh kiếm lên mặt đất,
chĩa lên trời. Ông cho hai đầu kiếm đâm vào khóe trong của mắt mình và tựa toàn
thân lên gươm. Chỉ một chút động đậy hay mất thăng bằng thì hai mắt của ông sẽ
bị chọc thủng và kiếm sẽ xuyên có ông. Thật là một cảnh biểu diễn rùng rợn! Nếu
chưa từng thấy cảnh tương tự tại Aissaouas ở Bắc Phi thì tôi chỉ có thể nói đây
là trò ảo thuật.
Sau khi người đồng cốt đã thực hiện mọi sự thử
thách để chứng minh niềm tin và lòng thiết tha của mình, xem ra thần linh đã
vui lòng sẵn sàng nói chuyện. Người đó ngồi xuống, tay chân còn run rẩy nhưng
sau đó bắt đầu bình tĩnh, và thần linh bắt đầu nói.
Họ nói rằng, mặc dù đây là trú xứ chính thức của
họ, nhưng không được hỏi ý hay mời đến tham dự buổi lễ. Nếu hỏi xin thì họ đã
vui lòng cho phép, nhưng vì không ai làm động tác lễ độ tối thiểu này nên họ
giận giữ.
Lạt ma Phiyang, người bị chê trách, trả lời với
sự tỉnh giác và bình tĩnh rằng ông không có chủ ý muốn loại bỏ ai ra ngoài buổi
lễ, vì mọi chúng sinh các cõi đều được mời đón. Thế nhưng nếu ông biết chỗ này
đã có các vị thần ở thì không những ông phải xin phép và được sự đồng ý các vị
đó, mà còn mời các vị tham gia buổi lễ. Ông xin các vị đó thứ lỗi cho sơ sót
này và xin các vị đồng ý cho hoàn thành buổi lễ để giúp lợi ích của những người
sống trong vùng.
Các vị thần nhận lời xin lỗi, đồng ý cho tiếp tục
buổi lễ và sau đó không còn trở ngại gì nữa.
NGƯỜI THỢ RÈN LÀM ĐỒNG CỐT
Sau buổi lễ cúng lửa, chúng tôi tìm hỏi về người
bị thần linh nhập và người ta cho hay đó là một người thợ rèn, người được thần
lựa làm đồng cốt sau khi người trước (cũng là thợ rèn) chết đi. “Lựa như thế
nào?”, chúng tôi hỏi, “người đó phải rất sùng tín hay có khả năng tâm linh gì
đặc biệt hay có xu hướng làm chuyện đó”. “Không, ông là một người bình thường.
Một thời gian sau khi người kia chết, tự nhiên có ngày ông bị ám và từ đó ông
trở thành người cho thần linh nói chuyện”.
*
* *
Rõ ràng trong làng luôn luôn có một người để thần
linh sử dụng và người đó phải nhận trách nhiệm này. Phần lớn những người này
thuộc nghề thợ rèn. Phải chăng những ai hay dính đến lửa và kim loại là đặc
biệt phù hợp để tiếp nhận ảnh hưởng của các năng lực tâm linh, hay đây chỉ là
truyền thống thời tiền sử để lại, thời mà đồ sắt đồ đồng được hình thành từ đất
đá để đưa con người qua một kỷ nguyên mới? Thời đó kim loại được xem là có ma
lực và tính chất huyền bí hay những ai “giải thoát” kim loại ra khỏi tù ngục
của đất đai, biến nó từ thể rắn thành thể lỏng và thay đổi hình dạng nó, phải
là đạo sư của ngành huyền học. Trong chuyện này Heinrich Zimmer nói về “thợ rèn
huyền bí’, người đã giải thoát thế giới ra khỏi thời kỳ đồ đá: “Người anh hùng
rút cây kiếm ra khỏi đá, không nhất thiết phải là một chiến sĩ lớn mà là nhà
huyền học đầy uy lực, chúa tể của mọi sự tâm linh và vật chất.
Truyền thống thời tiền sử này hình như vẫn tồn
tại ở nhiều nơi trên thế giới, châu Phi cũng như trong các bộ tộc Ấn Độ giáo
vùng nam dãy Himalaya, nếu ta chỉ muốn nhắc tới hai thí dụ. Truyền thống này
không liên hệ gì đến tôn giáo, chỉ tuân thủ quy luật tâm lý vốn xưa cũ hơn mọi
tôn giáo mà trong đó mọi sức mạnh tiềm ẩn của thiên nhiên cũng như của tâm lý
con giác ngộ phải được đánh thức.
Tôi tìm thấy hiện tượng lạ này nơi người
Aissaouas, một bộ phái Hồi giáo huyền bí tại Bắc Phi, mà thành viên của họ
(phần lớn làm nghề đồ sắt đồ đồng) mỗi ngày thứ tự tụ nhau trong một đền thờ
đặc biệt dành riêng cho phép tu xuất thần. Lúc còn trẻ, tôi sống một thời gian
với họ, mặc áo quần truyền thống của người Ả rập và vì thế có dịp tham dự các
phép tu của họ. Họ không chống đối những người có tín ngưỡng khác, miễn là
người ta cũng tôn trọng tôn giáo và tục lệ họ.
Mặc dù dạng xuất thần do tự họ tạo nên nhờ những
phép hô triệu, với tiếng trống và xập xỏa cũng như cách uốn éo thân người chầm
chậm kèm theo, tác dụng của nó cũng rất giống với phép cúng lửa mô tả ở trên
với dạng xuất thần của
người thợ rèn: khi tình trạng xuất thần đến thì hầu như có một sức mạnh khác
chen vào và thân người làm đồng cốt không có gì làm tổn thương được nữa. Ta gọi
sức mạnh này là gì, điều đó không quan trọng - dù gọi là Allah hay khả năng đặc
biệt của tâm thức bao trùm vũ trụ, nơi đó cốt tủy mọi sinh vật đều tham gia và
chỗ mà con người khi bỏ được cái ngã nhỏ bé sẽ hòa nhập vào - mà điều hệ trọng
duy nhất là tâm thức có sức mạnh lên vật chất, ngay cả trong dạng thô thiển,
dạng mà sức mạnh này biểu lộ ra trên bình diện hoang sơ của con người. Đối với
người Aissaouas thì những ai thường lặp lại tên thượng đế (Allah) không nghĩ
ngợi đến điều gì khác, mà nhờ đó có sự hiện diện của Ngài, người đó sẽ không
bao giờ bị bách hại. Điều đó làm niềm tin họ thêm sâu sắc và là sự xác nhận
chung quyết cho sự giải thoát của họ.
Buổi lễ bắt đầu với lời cầu khẩn Allah hòa theo nhịp
trống. Trong lúc đó người tham dự chia làm hai hàng đứng đối diện nhau, lắc lư
qua lại, những người trong một hàng choàng tay qua nhau nên cả hàng được xem
như có một thân duy nhất. Dần dần có người tách ra khỏi hàng, cởi bỏ áo ngoài
và ở trần; và chủ lễ đưa cho ông một trong những món vũ khí treo sẵn trên
tường. Phần lớn loại vũ khí này là những que sắt dài ngắn khác nhau, cán là một
hình bán cầu bằng gỗ.
Mục đích của cán gỗ sẽ rõ khi ta thấy chủ lễ lấy
búa gỗ đập lên cán đó để đóng những que sắt vào trong người của những đồng cốt,
lần lượt từ người này đến người khác. Thật là hãi hùng khi thấy cảnh que sắt
đóng dần dần vào da thịt những người này, nhưng xem ra họ không thấy đau và lạ
nhất là không chảy một giọt máu nào cả. Tôi đã có dịp đứng xem thật gần một
người, lúc que sắt xiên qua má ông và lọt qua má bên kia mà không đổ một giọt
máu. Về sau tôi nghe người ta nói, máu chỉ chảy lúc đồng cốt không đạt được mức
bất khả xâm phạm và điều này cho thấy lòng tin không sâu hay anh ta không tập
trung đầy đủ lên thượng đế.
Có người còn để cho nhiều cây sắt đâm ngang và
chúng nằm trên vai, ngực, lưng trong lúc người bị đâm tiếp tục nhảy múa xuất
thần cho đến khi họ kiệt sức ngã gục. Họ gục xuống chỗ nào thì nằm yên chỗ đó,
chủ lễ ném một chiếc khăn trắng trên người họ. Theo tinh thần buổi lễ, họ đã
chết và sau đó sẽ được chủ lễ gọi hồn sống lại, bằng một thần chú thiêng liêng
thì thầm vào tai.
Có nhiều dạng khác nhau của phép tưởng như tự
hành xác đó, nó nói lên sức mạnh của lòng tin và lòng xả thân tuyệt đối vì
thượng đế; vì ý niệm then chốt ở đây không phải là chịu cái đau mà là lòng tin
mạnh hơn cái đau đớn của thân thể. Tôi nhớ lại cảnh một người đàn ông cho toàn
người ngã lên lưỡi kiếm, tưởng chừng như muốn mổ bụng, mà da ông không hề hấn
gì cả.
Thế nhưng đáng sợ hơn những chuyện này là biến
người thành thú như heo, chó, trừu. Tôi không muốn nói thân họ thành thú nhưng
ý thức, cử động, toàn thể con người đã như con thú. Họ chạy bốn chân, và những
ai biến thành trừu thì ăn lá cây gai ngon lành, không bị thương tích. Kẻ khác
ăn miếng chai,
nuốt bò cạp sống… khiến người xem lợm giọng.
Cuối cùng toàn thể ngôi đền trở thành ma quái với
những con người nhảy múa, kẻ ở trần bị xiên sắt đâm ngang, những con vật bò
quanh và khắp nơi là những “xác chết”. Một trạng thái xuất thần điên loạn hầu
như tóm lấy người xem và tăng cường tới mức mà mình muốn giữ bình tĩnh cũng
nguy - vì mỗi ai không tham gia vào sự xuất thần này được xem là một vật thể
lạ, một chướng ngại, là người phủ nhận và chống lại tình trạng tâm thức xuất hồn
đang ngự trị và đáng để cho đao kiếm của một kẻ cuồng tín đâm thủng. Chỉ vị chủ
lễ là xem ra không bị tình trạng xuất thần xâm chiếm.
Cuối cùng khi tất cả, kể cả những kể giống như
thú, kiệt sức gục trên sàn và được che bởi khăn liệm thì ngôi đền như một bãi
chiến trường đầy xác người chết. Vị chủ lễ đi từ thân này qua thân khác, nói
nhỏ vào tai họ vài câu thần chú và họ từ từ ngồi dậy, người này sau người kia,
hầu như không có gì xảy ra. Và sau khi vị chủ lễ rút xiên sắt ra thì một vết
sẹo nhỏ cũng không có.
Về sau khi tôi hỏi, tại sao con người trong tình
trạng xuất thần không vươn lên một mức độ ý thức cao thấp mà lại cam chịu làm
thú, người ta giải thích đó là một hành động nhẫn nhục; vì ta tự hạ mình bao
nhiêu thì sự chứng ngộ Allah càng to lớn vĩ đại bấy nhiêu.
Tôi hiểu suy nghĩ này tới một mức nhất định nhưng
không thể chia sẻ quan điểm này với họ. Như mỗi đức hạnh, thì lòng nhẫn nhục và
tin tưởng sẽ hết là đức hạnh khi làm tới mức thái quá.
Lạt ma Phiyang đã cho thấy hành động đầy cảm
thông và rộng lượng trong tình hình khẩn cấp của buổi lễ cúng lửa, ông là một
đại biểu xứng đáng của con đường trung đạo và có tri kiến sâu xa trong tự tính
của tâm thức con người.
GIÃ TỪ TÂY TẠNG
Khoảng cuối tháng tư chúng tôi được tin đèo đã mở
và con đường thương nhân đi lại được đào ra từ tuyết vốn bị phủ kín suốt mùa
đông. Thời điểm của chia tay đã gần kề và khi chúng tôi lo thu xếp đồ đạc để
chuẩn bị lên đường về hẳn Ấn Độ thì lạt ma Phiyang về lại tu viện của ông tại
Tsaparang. Trước khi chia tay, ông muốn chúng tôi ngày nào đó phải đến lại Tây
Tạng và lưu lại một thời gian với ông. Ông cho chúng tôi một cuốn soldeb, cuốn
sách cầu nguyện rất đẹp, xem như món quà cuối và chỉ dẫn thêm để tâm chúng tôi
luôn luôn gần ông, mỗi lúc nhắc đến ông.
Sáng ngày ông đi, chúng tôi tiễn bằng cách đi
theo vài dặm để tỏ lòng biết ơn và thành kính. Thế nhưng ông cương quyết từ
chối hành động này và nhất định chỉ đi một mình. Chúng tôi nghe lời ông, cúi
thấp mình trước ông và nhận phước lành lần cuối. Tất cả chúng tôi - kể cả
Scherab - đều đầy nước mắt khi bóng ông từ từ khuất trên con đường hẹp: một
khách hành hương cô đơn, nghèo hơn lúc đến vì con ngựa đã chết cách đó vài
tuần. Khi gặm cỏ trên sườn núi gần nhà, con ngựa chột này đã lăn xuống vực sâu.
Hành lý nghèo nàn của vị đạo sư, người dã cho làng rất nhiều bằng sự hiện diện
của mình và lòng phụng sự quên mình, bây giờ được vài người trong làng tự
nguyện mang giúp đến chặng tới.
Khi dáng người cô đơn đã khuất, tôi về lại nhà và
tụng đọc cuốn sách để bớt đau buồn. Và kỳ lạ thay, không biết tại sao, tiếng
nói trầm của vị đạo sư thoát ra từ ngực tôi! Li và Scherab nghe thế ngạc nhiên
chạy lại và tôi nghe họ gọi: “Thầy về lại rồi à”. Thế nhưng họ chỉ thấy mình
tôi và tôi chỉ biết nói: “Chỉ tiếng nói thôi”. Kể từ đó tiếng nói của ông trở
lại khi tôi nghĩ đến ông, vị lạt mà Phiyang yêu kính.
Sau nhiều chậm trễ, cuối cùng đoàn người chúng
tôi đã xong và sẵn sàng lên đường. Chúng tôi yêu cầu Scherab đi theo, nhưng anh
ngại xuống đồng bằng. Ngay trong mùa đông mà khi làm việc (ví dụ chẻ củi) anh
luôn luôn ở trần. Anh cho Poo là ấm và độ cao 3000 m là thấp nhất với anh,
không dám xuống sâu hơn.
Anh xem chúng tôi như cha mẹ va sẵn sàng phục vụ
bất cứ cách nào; nhưng anh sẽ chết nếu xuống vùng thấp hay đi đồng bằng Ấn Độ,
như nhiều người cùng xứ, đi rồi không bao giờ về.
Ngày chúng tôi ra di, anh khắc trên một bản đá
thần chú của Quán Thế Âm “OM MANI PADME HUM”. Chúng tôi cùng đi với anh đến bức
tường mani, nơi anh đặt miếng đá và cầu nguyện mong trong kiếp sau được tái
sinh cùng với chúng tôi để tiếp tục phục vụ. Sau đó anh quay nhanh người, giấu
nước mắt và đi không ngoảnh lại. Trước đó anh đã nói là sẽ đi rất nhanh, không
quay lại vì nếu không tim anh sẽ vỡ.
Người cuối cùng từ giã chúng tôi là bạn thân và
đồng môn, Namgyal. Tôi ôm ông và chúng tôi cám ơn những gì ông dành cho.
Rồi chúng tôi rời thung lũng “thiên đường” và trở
lại với thế gian, không hề biết rằng giờ định mệnh của Tây Tạng đã điểm và sẽ
không bao giờ gặp lại… tất cả chỉ còn trong mơ. Thế nhưng chúng tôi biết rằng,
thầy của chúng tôi, cả báu vật của kỷ niệm mà đất nước này đã tặng cho, sẽ lưu
lại với chúng tôi đến cuối đời mình. nếu chỉ trao truyền được một phần báu vật
đó và giáo lý của các vị đạo sư cho thế gian thì chắc chắn chúng tôi có được
niềm vui là đã trang trải lại đôi chút lòng biết ơn mà chúng tôi nợ Tây Tạng và
các vị thầy tâm linh.
Đó chính là lý do mà tôi viết cuốn sách này; và
chúng tôi quyết sẽ dùng phần còn lại của đời mình để hoàn thành tác phẩm mà số
phận đã trao cho chúng tôi tại Tsaparang: trao lại thế giới gia tài bất tử của
Tây Tạng bằng hình ảnh và ngôn từ.