Thiên thần và ác quỷ - Chương 97 - 98 - 99 - 100

Chương 97

Tên sát thủ mỉm cười đánh xe vào một toà nhà xây bằng đá trông ra dòng sông Tiber. Hắn mang cô gái lên cao… đi dọc theo một đường hầm xây bằng đá. May mà cô gái có vóc người mảnh khảnh.

Hắn đã đến bên cánh cửa.

Đền thờ ánh sáng, hắn lầm bầm. Phòng họp cổ xưa của hội Illuminati. Làm sao có thể ngờ được rằng nó ở ngay chỗ này cơ chứ.

Vào bên trong, hắn đặt cô gái lên một cái tràng kỷ bọc da sang trọng. Rất thành thục, hắn trói chặt hai tay cô gái ra sau lưng, rồi trói hai cổ chân lại. Những gì hắn thèm khát sẽ phải hoãn lại đến khi mọi việc được hoàn tất. Nước.

Nhưng hắn vẫn có thể tự dành cho mình chút xíu thời gian, tên sát thủ thầm nghĩ. Quỳ xuống bên cô gái, hắn vuốt ve cặp đùi thon dài và mềm mại. Bàn tay hắn lần lên cao hơn. Những ngón tay đen đúa lần lên trên gấu quần soóc. Cao hơn nữa.

Rồi hắn dừng phắt lại. Phải kiên nhẫn, chợt tỉnh ra, hắn tự nhắc nhở bản thân. Phải làm xong việc trước đã.

Hắn bước ra ngoài ban công mát rượi. Làn gió đêm nhanh chóng làm dịu đi cơn thèm khát man dại trong hắn. Tít dưới kia, sông Tiber vẫn đang chảy xiết. Hắn ngước nhìn mái vòm của Đại thánh đường St. Peter, cách hắn khoảng ba phần tư dặm, hiện ra rõ mồn một trong ánh sáng phát ra từ hàng trăm máy quay.

- Giờ khắc cuối cùng đã tới. - Hắn nói to thành tiếng, trong lòng nghĩ tới hàng ngàn chiến binh Hồi giáo đã bị sát hại trong cuộc Thập tự chinh. - Đêm nay, các vị sẽ được đoàn tụ với Chúa của mình.

Sau lưng hắn, cô gái bắt đầu cựa quậy. Tên sát thủ quay lại. Hắn cân nhắc xem có nên để cô gái thức dậy hay không. Nỗi khiếp đảm trong ánh mắt của phụ nữ luôn là liều thuốc kích dục tuyệt vời nhất đối với hắn.

Nhưng hắn chọn giải pháp chắc chắn hơn. Tốt nhất là cứ để cho cô gái nằm bất tỉnh trong khi hắn đi vắng. Dù cô gái đã bị trói chặt và không thể nào trốn thoát được, nhưng hắn không muốn để cho con mồi của mình mệt lả đi vì giãy giụa quá nhiều. Ta muốn cô em khỏe mạnh… để ta còn thưởng thức.

Nhẹ nhàng nâng đầu cô gái lên, hắn lần ngón tay tìm chỗ hõm ngay dưới xương sọ. Hắn đã từng điểm vào huyệt đạo kiểu này nhiều lần rồi. Với sức mạnh của loài mãnh thú, hắn nhấn ngón tay vào lớp xương sụn mềm, rồi ấn mạnh xuống. Cô gái nằm vật ra ngay lập tức. 20 phút thôi mà, hắn thầm nghĩ. Con mồi này sẽ là một kết thúc hoàn hảo cho một ngày tuyệt vời. Sau khi thưởng thức cô gái, chứng kiến cô ta chết ngay trên tay mình, hắn sẽ bước ra ban công để thưởng ngoạn pháo hoa trên bầu trời Vatican.

Để con mồi nằm nguyên trên đi-văng, hắn xuống cầu thang, bước vào một căn phòng tối tăm, chỉ có một cây đuốc duy nhất toả sáng. Nhiệm vụ sau cùng. Hắn bước tới bên bàn, kính cẩn nhìn con dấu thiêng bằng sắt đã được để sẵn ở đó.

Nước. Con dấu sau cùng.

Như ba lần trước, hắn rút cây đuốc trên tường; nung cho con dấu nóng đỏ lên. Khi toàn bộ con dấu đã nóng đỏ, hắn bước vào trong ngục.

Một người đang đứng yên lặng: Già nua và cô độc.

- Này Hồng y Baggia. - Hắn rít lên - Ông đã cầu nguyện chưa đấy?

Đôi mắt của vị Hồng y già người Ý không chút sợ hãi:

- Ta đã cầu nguyện cho linh hồn của ngươi đấy!

Chương 98

Sáu người lính cứu hoả đã nhận được lệnh dùng khí Halon để dập tắt ngọn lửa bốc cao trong nhà thờ Santa Maria Della Vittoria. Dùng nước đỡ tốn kém hơn nhiều, nhưng sẽ làm tổn hại đến các bức bích hoạ trong nhà nguyện. Vatican đã trả lương rất hậu cho các đội cứu hoả ở Rome để bảo vệ các công trình do Vatican sở hữu.

Do đặc thù công việc của mình, những người lính cứu hoả này gần như ngày nào cũng phải chứng kiến các bi kịch, nhưng những gì xảy ra trong nhà thờ này sẽ ghi dấu ấn rất đậm trong tâm trí họ. Quang cảnh trong nhà thờ như được dựng lại từ những cơn ác mộng, phần giống như giàn thiêu, phần giống như một cái giá treo, phần như bị thiêu sống.

Rủi thay, như mọi khi, cánh nhà báo đã nhanh chân hơn họ. Những người này đã quay phim chụp ảnh rất nhiều trước khi đội cứu hoả bắt tay vào hành động. Khi những người lính cứu hoả cắt được sợi dây thừng và hạ cái xác xuống mọi người nhận ra ngay lập tức đó là ai.

- Hồng y Guidera, - một người thì thào. - Phụ trách giáo xứ Barcelona.

Nạn nhân bị lột hết quần áo. Nửa dưới cơ thể bị cháy đen sì, máu rỉ ra từ hai vết rách toạc trên đùi. Xương ống chân lòi cả ra ngoài. Một người lính cứu hoả nôn mửa ngay tại chỗ. Một người khác phải chạy ra ngoài để hít thở khí trời.

Tuy nhiên, đáng sợ nhất vẫn là dấu khắc nung trên ngực nạn nhân. Kinh hoàng, người đội trưởng xoay cái thi thể đúng một vòng. Chắc chắn là bàn tay của quỷ Sa-tăng, anh ta lẩm bẩm, và lần đầu tiên trong đời, người đội trưởng làm dấu thánh.

- Un altro corpol ([104]) ! - Một người kêu lên. Một người lính cứu hoả vừa phát hiện thêm một xác người nữa.

([104]) Un altro copro: Một xác người nữa!

Nạn nhân thứ hai thì người đội trưởng nhận ra ngay. Người đội trưởng khắc khổ của đội lính gác Thụy Sĩ, vốn không được những quan chức trong ngành hành pháp ưa thích. Anh ta gọi điện đến toà thánh, nhưng tất cả các đường dây đều bận. Dù sao thì vài phút nữa tin này cũng sẽ được phát trên ti-vi, đội lính gác Thụy Sĩ sẽ biết ngay thôi.

Khi người đội trưởng đang đánh giá mức độ thiệt hại và cố mường tượng xem chuyện gì đã diễn ra trong thánh đường này, anh chợt nhìn thấy một cái hố chi chít vết đạn. Cỗ quan tài đá trong hốc đã bị lật khỏi bệ đỡ, rõ ràng là đã có một cuộc ẩu đả.

Mọi thứ tan hoang. Phần này thì để cảnh sát xử lý, người đội trưởng thầm nghĩ và định quay đì.

Đúng lúc ấy anh dừng ngay lại. Có một tiếng động phát ra từ trong cỗ quan tài lật úp. Thứ âm thanh mà những người lính cứu hoả không muốn nghe thấy chút nào.

- Bomba! ([105]) - Anh hét to. - Tutti fuori! ([106])

Khi đội phá bom lật cỗ quan tài lên, họ phát hiện ra nguyên do của những tiếng bíp bíp ấy. Họ sững sờ, trợn tròn mắt.

- Gọi bác sĩ! - Cuối cùng một người kêu lên. - Gọi bác sĩ ngay!

([105]) Bomba: Bom

 ([106]) Tutti fuori: Tất cả tránh ra.

Chương 99

- Có tin tức gì của Olivetti không? - Giáo chủ Thị thần hỏi. Khi hộ tống Giáo chủ Thị thần từ nhà nguyện Sistine về phòng làm việc của Giáo hoàng, đại tá Rocher thấy ngài có vẻ mệt mỏi.

- Không, thưa cha. Con sợ là chuyện tồi tệ nhất đã xảy ra rồi.

Về đến phòng làm việc của Giáo hoàng, giọng nói của Giáo chủ Thị thần có vẻ nặng nhọc:

- Ông đại tá này, tối nay ta chẳng còn làm thêm được gì nữa đâu. E rằng ta đã làm quá nhiều mất rồi. Ta sẽ cầu nguyện ở đây. Đừng làm phiền ta. Những gì còn lại xin phó thác nơi Chúa.

- Vâng, chưa cha.

- Muộn rồi đấy, ông đại tá ạ. Tiếp tục tìm cái hộp đi.

- Con vẫn đang tiến hành rà soát đấy ạ. - Rocher lưỡng lự. - Hình như cái hộp đó được giấu ở một nơi rất kín đáo.

Giáo chủ Thị thần chớp mắt, như thể ngài chưa hề nghĩ đến khả năng đó.

- Đúng thế. Đúng 11 giờ 15 phút, nếu vẫn còn trong tình trạng nguy hiểm thì ông hãy sơ tán toàn bộ Hồng y đoàn. Ta tin tường ở ông. Chỉ yêu cầu ông một điều: Hãy để cho họ ra khỏi Vatican trong danh dự. Hãy đưa họ ra quảng trường St. Peter và để họ đứng sát cánh với toàn thế giới. Ta không muốn hình ảnh cuối cùng của toà thánh là những ông già hốt hoảng chạy ra đằng cửa hậu.

- Vâng, thưa cha. Còn cha thì sao? Đến 11 giờ 15 phút con đến đón cha luôn nhé?

- Không cần đâu!

- Cha bảo sao ạ?

- Ta sẽ rời nơi này khi linh hồn đến gọi ta đi.

Có lẽ Giáo chủ Thị thần định sống chết với con thuyền sắp chìm, Rocher thầm nghĩ.

Giáo chủ Thị thần mở cửa phòng làm việc của Giáo hoàng và bước vào trong.

- Thật ra thì… - ngài quay sang Rocher. - Còn một việc nữa. Đêm nay căn phòng này lạnh lẽo quá, ta đang run lên đây.

- Lò sưởi điện đã bị ngắt mất rồi. Để con nhóm lò sưởi cho cha.

Giáo chủ Thị thần cười mệt mỏi:

- Cảm ơn con. Cảm ơn con rất nhiều.

Rocher ra khỏi phòng làm việc của Giáo hoàng. Giáo chủ Thị thần đang cầu nguyện bên tượng Đức mẹ đồng trinh Maria, trước ngọn lửa. Một cảnh tượng kỳ dị. Một bóng đen đang quỳ bên một đốm sáng bập bùng. Rocher đi đến cuối hành lang thì thấy một người lính chạy đến. Trong ánh nến lờ mờ, ông ta nhận ra ngay thiếu uý Chartrand, trẻ măng, mặt tái mét, rất sốt sắng.

- Thưa đại tá. - Chartrand gọi lớn, chìa ra chiếc máy điện thoại. - Chắc là lời kêu gọi của Giáo chủ Thị thần đã có tác dụng rồi. Có một người gọi đến, nói rằng có thể giúp chúng ta. Người này gọi đến số máy nội bộ của toà thánh. Không hiểu thế nào mà ông ta lại có được số máy này.

Rocher dừng bước:

- Cái gì?

- Ông ta yêu cầu được nói chuyện với cấp chỉ huy.

- Có tin gì của Olivetti không?

- Không ạ.

Rocher cầm lấy điện thoại.

- Đại tá Rocher đây. Tôi hiện là cấp chỉ huy ở đây.

- Rocher, tôi sẽ tự giới thiệu về mình! - Đầu dây bên kia nói - Rồi tôi sẽ cho anh biết tiếp theo phải làm những gì.

Khi người ấy nói xong và cúp máy, Rocher kinh ngạc. Giờ thì viên đại tá đã hiểu ông ta đang nhận mệnh lệnh của ai.

***

Tại CERN, Sylvie Baudeloque đang ra sức ghi lại tất cả những tin nhắn được gửi đến số máy của Kohler về việc mua bản quyền phát minh. Đường dây cá nhân trên bàn bỗng đổ chuông, Sylvie giật nảy người. Không một ai có số máy này. Chị nhấc máy trả lời.

- Tôi nghe.

- Cô Baudeloque đấy à? Giám đốc Kohler đây. Hãy liên lạc với phi công của tôi. Bảo chuẩn bị máy bay riêng của tôi trong vòng 5 phút nhé.

Chương 100

Mở mắt ra, trông thấy mặt dưới của mái vòm nhà thờ được trang trí theo trường phái ba-rốc, Robert Langdon không biết anh đang ở đâu, và đã bất tỉnh trong bao lâu. Khói đang bốc lên. Miệng bị bịt. Hoá ra là mặt nạ ôxi. Langdon giật cái mặt nạ ra. Căn phòng này đặc quánh một thứ mùi khủng khiếp - như mùi thịt cháy.

Langdon nhăn mặt, đầu đau như búa bổ. Anh cố sức ngồi dậy.

Một người mặc bộ đồng phục màu trắng đang quỳ bên cạnh anh.

- Riposati! ([107]) - Anh ta vừa nói vừa đẩy Langdon nằm xuống.

Langdon phục tùng. Đầu óc choáng váng. Chuyện quái gì đã xảy ra nhỉ? Toàn thân anh đau nhức.

- Topo salvatore ([108]), người nhân viên y tế nói - Chú chuột đã cứu mạng anh đấy.

Langdon càng không hiểu gì. Chuột cứu mạng?

([107]) Riposati: Nằm nghỉ đi.

 ([108]) Topo salvatore: Chú chuột cứu mạng.

Anh ta chỉ tay vào chiếc đồng hồ có hình chuột Mickey đeo trên cổ tay Langdon. Anh bắt đầu hiểu ra. Anh nhớ rằng mình đã đặt chế độ báo thức. Lơ đễnh, Langdon nhìn đồng hồ. 10 giờ 28 phút.

Anh ngồi bật dậy.

Thế rồi Langdon nhớ lại tất cả.

Langdon đứng cạnh bàn thờ chúa, cùng với người đội trưởng đội cứu hoả và một số nhân viên của anh ta. Họ đã hỏi anh khá nhiều, nhưng Langdon như không nghe thấy gì. Anh cũng có những câu hỏi của riêng mình. Toàn thân đau như dần, nhưng Langdon biết cần phải hành động ngay lập tức.

Một người lính cứu hoả tiến lại bên Langdon.

- Tôi đã kiểm tra lại rồi, chỉ thấy có thi thể của Hồng y Guidera và chỉ huy đội lính gác Thụy Sĩ. Không thấy có thi thể phụ nữ nào cả.

- Cảm ơn anh. - Langdon đáp, anh không hiểu nổi mình đang cảm thấy nhẹ nhõm hay lo lắng thêm. Chắc chắn anh trông thấy Vittoria nằm bất tỉnh trên sàn. Lúc này thì không thấy cô gái đâu nữa. Nguyên do duy nhất nảy ra trong đầu anh lúc này chẳng dễ chịu chút nào. Trên điện thoại, tên giết người tỏ ra chẳng chút gì gượng nhẹ. Cô có vẻ mạnh mẽ đấy. Tôi thích thế. Có thể lúc nào xong việc tôi sẽ đi tìm cô em. Và lúc đó thì…

Langdon nhìn quanh.

- Đội lính gác Thụy Sĩ đâu rồi?

- Vẫn không liên lạc được. Tất cả các số máy của Vatican đều bận.

Langdon cảm thấy kiệt quệ và đơn độc. Olivetti đã chết. Vị Hồng y cũng đã từ trần. Vittoria thì bị mất tích. Loáng một cái, anh đã để mất nửa giờ quý giá trong đời.

Ngoài kia, cánh nhà báo đã ùn ùn kéo đến. Chắc những hình ảnh về vị Hồng y Giáo chủ bị sát hại sắp được phát trên sóng, nếu không nói là bây giờ đã lên sóng rồi. Hi vọng Giáo chủ Thị thần đã sớm lường tới tình huống xấu nhất và đã kịp thời hành động. Phải sơ tán toàn bộ Vatican! Đủ lắm rồi! Chúng ta đã thua!

Langdon chợt nhận thấy tất cả những gì đã thúc đẩy anh phải nỗ lực suốt ngày hôm nay - nghĩa vụ giúp Vatican tìm hộp phản vật chất, cứu bốn vị Hồng y, đối diện với một hội kín mà anh đã bỏ công sức nghiên cứu về nó bao năm nay - tất cả những thứ ấy bỗng nhiên không còn tồn tại nữa. Họ đã thua. Anh cảm thấy trong tâm trí một sự thúc bách mới. Một nhiệm vụ đơn giản. Nhưng quan trọng hơn hết thảy.

Tìm Vittoria.

Langdon chợt cảm thấy trống trải. Anh đã từng nghe nói rằng những tình huống hiểm nghèo có thể gắn kết hai con người lại với nhau mà quãng thời gian hàng chục năm cũng chưa chắc đã làm nổi. Giờ thì anh bắt đầu tin rằng chuyện đó là có thật.

Không có Vittoria, Langdon chợt cảm thấy một thứ tình cảm từ nhiều năm nay anh chưa một lần trải nghiệm. Sự cô đơn. Nỗi đau bỗng khiến anh trở nên mạnh mẽ.

Gạt khỏi tâm trí tất cả mọi thứ khác, Langdon tập trung suy nghĩ. Cầu cho tên sát thủ sẽ tập trung làm cho xong việc của hắn trước khi nghĩ đến chuyện hưởng thụ. Nếu không thì lúc này đã là quá muộn. Không đâu, anh tự an ủi bản thân, mình vẫn còn thời gian. Hắn còn việc phải làm. Hắn còn phải xuất hiện thêm một lần cuối cùng nữa trước khi biến mất mãi mãi.

Bàn thờ khoa học cuối cùng, Langdon thầm nghĩ. Tên sát thủ còn phải tiến hành một vụ hành quyết nữa. Đất. Khí Lửa. Nước.

Langdon xem đồng hồ. 30 phút. Băng qua những người lính cứu hoả, anh lao đến bên Khoảnh khắc đê mê của thánh Teresa của Bernini và chăm chú quan sát. Lần này thì Langdon biết chắc chắn mình cần tìm cái gì.

Thiên thần dẫn lối trên hành trình cao cả…

Thiên thần của Bernini đang bay lượn ngay bên trên vị thánh, trên nền một lưỡi lửa mạ vàng. Trên tay thiên thần là một lưỡi giáo lửa, Langdon đưa mắt theo hướng cây giáo được giương lên cao, chỉ về bên tay phải thánh đường. Mắt Langdon chạm phải bức tường. Anh nhìn kỹ một lượt nhưng không thấy gì. Dĩ nhiên là lưỡi giáo này hướng về một địa điểm nữa bên ngoài bức tường này, trong màn đêm, đâu đó phía bên kia thành Rome.

- Đây là hướng gì nhỉ? - Lòng tràn đầy quyết tâm! - Langdon quay sang hỏi người đội trưởng đội cứu hoả.

- Hướng à? Anh ta liếc nhìn về phía tay Langdon đang chỉ, vẻ hơi bối rối. - Không rõ lắm… chắc là hướng Tây!

- Ở phía ấy có nhà thờ nào không?

Người đội trưởng càng có vẻ bối rối hơn.

- Hàng chục nhà thờ. Để làm gì?

Langdon nhíu mày. Dĩ nhiên là phải đến hàng chục rồi.

- Tôi cần một tấm bản đồ thành phố. Ngay lập tức.

Người đội trưởng yêu cầu một nhân viên chạy về xe lấy bản đồ. Langdon quay lại quan sát bức tượng Đất… Khí… Lửa… VITTORIA.

Yếu tố cuối cùng là Nước, anh tự nhủ. Nước của Bernini. Trong một nhà thờ nào đó, đâu đây trong thành phố này. Như một cái kim giấu trong đống cỏ khô, Langdon điểm lại trong óc tất cả những tác phẩm của Bernini anh có thể nghĩ ra được lúc này. Cần tìm một tác phẩm liên quan đến Nước!

Anh chợt nghĩ đến bức tượng Triton của Bernini - tượng thần biển của người Hi Lạp. Rồi lại nhớ ra rằng tác phẩm đó được đặt ở quảng trường ngay trước mặt thánh đường này, nhưng lại hoàn toàn sai hướng. Langdon cố tập trung suy nghĩ. Bernini đã tạo ra tác phẩm nào để tôn vinh nước nhỉ? Thần biển hay thần mặt trời nhỉ? Rủi thay, bức tượng đó đang được trưng bày ở bảo tàng Victoria và Albert ở tận London.

- Thưa ông, bản đồ đây. - Một người lính cứu hoả mang lại cho Langdon tấm bản đồ thành phố.

Sau khi cảm ơn người lính cứu hoả, Langdon trải rộng tấm bản đồ Ngay lập tức, anh biết mình đã hỏi đúng người cần hỏi; bản đồ thành Rome của đội lính cứu hoả quả là chi tiết.

- Giờ chúng ta đang ở đâu?

Anh ta đưa tay chỉ.

- Gần quảng trường Barberini.

Langdon lại quay sang nhìn theo hướng ngọn giáo giương cao của thiên thần. Ước lượng của người đội trưởng quả là chính xác.

Theo tấm bản đồ này thì ngọn giáo chỉ về hướng Tây. Gần như ngay lập tức, hi vọng của anh giảm hẳn đi. Dọc, theo vệt tay đi của Langdon, cứ một hai phân lại thấy có một công trình được đánh dấu bằng một chữ thập màu đen nhỏ xíu. Nhà thờ. Thành phố này dày đặc những nhà thờ. Hết vùng nội đô, ngón tay Langdon đi ra đến vùng ngoại thành. Thở hắt ra, anh xem lại một lần nữa. Khỉ thật!

Quan sát bao quát bản đồ, Langdon xác định lại vị trí ba nhà thờ mà các vị Hồng y đã bị sát hại. Nhà nguyện Chigi… Quảng trường St. Peter… và ở đây…

Xác định xong cả ba vị trí, Langdon cảm thấy những địa danh này có gì đó đặc biệt. Lúc đầu anh nghĩ những địa điểm này sẽ nằm rải rác trong thành Rome, nhưng rõ ràng không phải thế.

Thật kinh ngạc, ba thánh đường này được bố trí ở những khoảng cách đều nhau, tạo thành một hình tam giác lớn trải rộng khắp thành phố. Langdon kiểm tra lại một lần nữa. Không phải là anh tự tưởng tượng.

- Cho tôi cái bút. - Anh nói, không ngẩng mặt lên.

Ai đó đưa cho Langdon một cây bút.

Anh khoanh tròn ba nhà thờ. Tim đập thình thịch. Rồi kiểm tra lại một lần nữa. Hình tam giác đều!

Thoạt đầu Langdon nghĩ đến hình con dấu vĩ đại trên tờ bạc một đô la - một hình tam giác bao quanh con mắt nhìn thấu suốt. Nhưng như thế không có nghĩa. Anh mới đánh dấu được có ba điểm. Cần phải có bốn điểm mới đủ.

Nước ở chỗ nào nhỉ? Thêm một điểm nữa vào bất kỳ chỗ nào thì hình tam giác đều cũng sẽ bị phá vỡ. Điểm duy nhất có thể bảo toàn được sự cân đối là ở trong hình tam giác, đúng vào tâm điểm. - Anh nhìn vào điểm ấy trên bản đồ. Không có gì. Nhưng ý tưởng đó vẫn khiến anh phải suy nghĩ. Bốn nguyên tố của khoa học được coi là đồng đẳng. Nước không có gì đặc biệt; nước không thể được đặt ở giữa ba nguyên tố còn lại.

Thế nhưng bản năng vẫn mách bảo Langdon rằng hình tam giác đều này không thể là sự ngẫu nhiên. Mình vẫn chưa thấy hết toàn bộ bức tranh cơ mà! Chỉ còn một lựa chọn nữa. Nếu bốn điểm không tạo ra hình tam giác thì phải là một hình khác nữa.

Langdon lại nhìn bản đồ. Biết đâu lại là hình vuông? Dù không hợp lý lắm, nhưng ít ra thì hình vuông còn có tính cân đối.

Langdon đặt ngón tay lên một điểm trên bản đồ để biến tam giác thành hình vuông. Anh lập tức nhận thấy rằng hình vuông là không hợp lý. Các thiên thần ở ba địa điểm này chỉ tay về những hướng chếch nhau, tạo ra một hình tứ giác rất méo mó.

Xem xét thêm một vài điểm nữa trên bản đồ, Langdon chợt phát hiện ra. Anh nhận thấy đường thẳng trước đó anh vừa vạch ra để chỉ theo hướng mũi giáo của thiên thần đi qua một trong những địa điểm anh phỏng đoán. Kinh ngạc. Langdon khoanh tròn điểm đó. Lúc này, anh quan sát bốn địa điểm được đánh dấu bằng bút bi, tạo thành viên kim cương hình cái diều khá kỳ dị.

Langdon nhíu mày. Kim cương cũng không phải là biểu tượng của Illuminati. Ngừng một lát. Thế nhưng…

Trong thoáng chốc, Langdon nhớ đến viên kim cương Illuminati nổi tiếng. Tuy nhiên, ý nghĩ này thật kỳ quặc. Bên cạnh đó, viên kim cương này trông như một cái diều - khó có thể là một ví dụ cho tính khuôn mẫu, đối xứng của viên kim cương Illuminati vốn rất được tôn sùng.

Cúi xuống để nhìn cho kỹ địa điểm vừa đánh dấu, Langdon ngạc nhiên thấy nó rơi đúng vào trung tâm quảng trường Navona nổi tiếng của thành Rome. Anh biết cạnh quảng trường này là một thánh đường, nhưng ban nãy Langdon đã di ngón tay qua, và đã nghĩ đến nó rồi. Theo như anh biết thì trong đó không có tác phẩm nào của Bernini cả. Thánh đường này có tên là Nỗi đau của thánh Agnes. Thánh Agnes là một thiếu nữ trẻ xinh đẹp, đã chấp nhận kiếp sống khổ nhục của một nô lệ tình dục chứ không chịu từ bỏ đức tin của mình.

Chắc chắn trong nhà thờ này phải có cái gì đó! Langdon cố vắt óc mường tượng quang cảnh bên trong thánh đường. Anh chẳng nhớ ra tác phẩm nào của Bernini trong đó, liên quan đến nước thì lại càng không. Những sắp đặt hiện ra trên bản đồ cũng khiến Langdon băn khoăn. Hình viên kim cương. Đủ chính xác để không thể là ngẫu nhiên được, nhưng lại chưa đủ độ tuyệt đối để thể hiện bất kỳ ý nghĩa nào. Hay là cái diều? Hay là Langdon đánh dấu không chính xác? Mình đá bỏ sót chi tiết nào rồi!

Mất thêm 30 giây nữa anh mới nghĩ ra câu trả lời. Khi đã có câu trả lời, anh thấy vô cùng phấn khởi, chưa một giây phút nào trong sự nghiệp khoa học của mình khiến anh phấn khởi đến thế.

Dường như thiên tài của Illuminati không bao giờ bỏ qua chi tiết nào.

Đây không phải là hình viên kim cương. Bốn điểm này tạo ra hình viên kim cương chỉ vì Langdon mới nối những điểm lân cận với nhau. Illuminati tôn thờ sự đối xứng! Tay run run, Langdon nối hai cặp đỉnh đối diện. Trước mắt anh hiện ra hình cây thập tự khổng lồ. Là hình chữ thập! Bốn nguyên tố đầu tiên của khoa học hiện ra trên tấm bản đồ… nằm rải rác khắp thành Rome, tạo thành một chữ thập lớn trải rộng khắp thành phố.

Tròn mắt kinh ngạc, Langdon nhớ lại dòng thơ ấy… như một người bạn cũ, nay bỗng dưng mang một khuôn mặt mới.

"Nguyên tố huyền bí hiển hiện khắp thành Rome…

"Khắp thành Rome…

Sương mù bắt đầu tan. Hoá ra câu trả lời đã ở ngay trước mắt anh từ lâu rồi! Bài thơ của hội Illuminati đã mách bảo anh cách thức các nguyên tố này được bố trí. Khắp.

"Nguyên tố huyền bí hiển hiện khắp thành Rome…

Quả là lối chơi chữ thông minh. Lúc đầu Langdon không để ý lắm đến từ "khắp". Anh tưởng sự lựa chọn từ này chỉ là để đáp ứng yêu cầu về nhịp phách của dòng thơ. Hoá ra không chỉ có thế?

Lại thêm một đầu mối nữa hiện ra.

Hoá ra hình chữ thập trên bản đồ thể hiện tính đối ngẫu tuyệt đối mà Illuminati tôn sùng. Nó là một biểu tượng tôn giáo, được tạo nên bởi bốn nguyên tố của khoa học. Con đường ánh sáng của Galileo tôn vinh cả khoa học lẫn Chúa trời!

Phần còn lại của câu đố hóc búa hiện ra gần như tức thì.

Quảng trường Navona.

Chính giữa quảng trường Navona, trước mặt nhà thờ Nỗi đau của thánh Agnes, là một trong những tác phẩm trứ danh nhất của Bernini. Tất cả những ai đến thăm thành Rome đều muốn chiêm ngưỡng tác phẩm này.

Đài phun nước. Bốn dòng sông!

Một cách thức tuyệt hảo để tôn vinh nước. Đài phun nước. Bốn dòng sông của Bernini ngợi ca bốn dòng sông lớn của cựu lục địa - sông Nile, Ganges, Danube và Rio Plata.

Nước, Langdon thầm nghĩ. Đầu mối cuối cùng. Thật hoàn hảo.

Thêm một chi tiết tuyệt vời nữa, như một trái sơ-ri ngọt ngào trên chiếc bánh ga-tô, chính là toà Kim tự tháp bằng đá ngay giữa đài phun nước này.

Đứng phắt dậy, mặc kệ những người lính cứu hoả còn đang ngơ ngác, Langdon chạy tới bên thi thể của Olivetti.

10 giờ 32 phút rồi, anh thầm nghĩ. Vẫn còn thiếu thời gian. Lần đầu tiên trong ngày hôm nay, Langdon cảm thấy mình đi trước được một bước.

Quỳ xuống bên xác Olivetti, khuất sau mấy hàng ghế, Langdon kín đáo rút khẩu súng bán tự động và chiếc máy bộ đàm ở lưng ông ta. Anh phải gọi người ứng cứu, nhưng không phải ở đây.

Lúc này cần phải giữ bí mật về bàn thờ khoa học cuối cùng. Đám đông các nhà báo cùng với đội xe cảnh sát rú còi ầm ỹ lao về phía quảng trường Novona sẽ chẳng được tích sự gì.

Không nói không rằng, Langdon lẻn ra khỏi cửa, vòng ra sau lưng đám nhà báo lúc này đang lũ lượt kéo vào trong thánh đường.

Anh đi qua quảng trường Babernini, ra đến một góc tối, anh bật máy bộ đàm. Anh ra sức gọi nhưng chẳng thấy có tín hiệu. Một là anh đã ở ngoài vùng phủ sóng, hai là để sử dụng chiếc máy này cần biết một tần số đặc biệt nào đó. Langdon ra sức điều chỉnh những cái nút và cần gạt, nhưng chẳng tác dụng gì. Đột nhiên, anh nhận thấy kế hoạch gọi người đến trợ giúp không còn khả thi nữa. Langdon lập tức chạy đi tìm bốt điện thoại. Không có. Mà dù sao thì các đường dây của Vatican cũng đều bận hết rồi.

Đơn độc. Cảm giác tự tin lúc đầu nhanh chống biến mất. Langdon đứng lặng đi, nghĩ đến tình cảnh thảm hại của mình: người dính đầy vụn xương mục, bị thương, kiệt sức và đói.

Anh quay lại nhìn nhà thờ. Khói đen cuồn cuộn trên mái vòm sáng trưng dưới ánh đèn máy quay và xe cứu hoả. Anh phân vân không biết có nên quay vào đó nhờ người giúp đỡ hay không.

Nhưng bản năng mách bảo rằng sự trợ giúp của những người không có chuyên môn sẽ chỉ mang lại nhiều bất lợi. Nhỡ tên sát thủ trông thấy mọi người kéo đến… Anh nghĩ đến Vittoria, và biết rằng đây là cơ hội cuối cùng để tóm được hung thủ.

Quảng trường Navona, anh nghĩ, thầm biết rằng còn đủ thời gian để đến đó và khoanh vùng địa điểm. Anh nhìn quanh tìm xe taxi, nhưng phố vắng tanh. Hình như cả cánh lái xe taxi cũng bỏ hết mọi thứ để ngồi trước màn hình ti-vi. Quảng trường Navona chỉ cách có một dặm nhưng Langdon không muốn phung phí sức lực bằng cách cuốc bộ đến đó. Anh lại nhìn nhà thờ, cân nhắc khả năng mượn xe của ai đó để đi.

Xe cứu hoả? Xe hòm của nhà báo? Phải cẩn thận.

Biết rằng càng do dự thì càng dễ để tuột mất cơ hội, Langdon nhanh chóng quyết định. Rút súng ra, anh hành động khác hẳn phong cách thường ngày của bản thân mình, khác đến mức Langdon nghĩ mình đã bắt đầu bị quỷ ám. Chạy đến bên một chiếc xe Citroen đang đỗ bên lề đường, Langdon chĩa súng vào người lái xe đang ngồi bên trong và hét lên:

- Fuori! ([109])

Người lái xe run rẩy bước xuống.

Langdon nhảy ngay vào ngồi sau vô lăng và kéo cần ga.

([109]) Fouri: Ra ngoài!