Kẻ May Mắn - Chương 13 phần 1

13

Thibault

Thibault nhìn Victor quăng dây câu xuống dòng nước lạnh vùng Minnesota. Đó là một buổi sáng thứ Bảy quang mây. Không khí tĩnh lặng, mặt hồ phản chiếu bầu trời trong vắt. Họ ra hồ từ sáng sớm, muốn câu cá trước khi hồ trở nên nhộn nhịp ca nô và xuồng cao tốc. Hôm đó là ngày cuối cùng trong kỳ nghỉ của họ; rồi mai cả hai cùng lên máy bay về nhà. Vào buổi tối cuối cùng đó, họ dự định sẽ ăn tới ăn tối tại một nhà hàng đồ nướng có tiếng là ngon nhất thị trấn.

“Tớ nghĩ là cậu có thể tìm được người phụ nữ ấy.” Victor nói mà không dạo trước.

Thibault đang cuốn dây câu lại. “Ai?”

“Người phụ nữ trong bức ảnh đã mang lại may mắn cho cậu ấy. Thibault liếc sang bạn. “Cậu đang nói cái gì thế?”

“Khi nào cậu đi tìm cô ấy. Tớ nghĩ cậu sẽ tìm được.”

Thibault cẩn thận kiểm tra lưỡi câu và quăng ra. “Tớ sẽ không đi tìm cô ấy đâu.”

“Bây giờ cậu nói vậy thôi. Nhưng cậu sẽ tìm.”

Thibault lắc đầu. “Không, tớ không đi đâu. Mà thậm chí có muốn thì cũng chẳng có cách gì tìm được.”

“Cậu sẽ tìm ra cách.” Victor nói giọng tràn đầy tự tin. Thibault chằm chằm nhìn bạn. “Sao chúng ta lại nói chuyện này nhỉ?”

“Bởi vì,” Victor tuyên bố, “chuyện này vẫn chưa kết thúc.”

“Tin tớ đi, kết thúc rồi.”

“Tớ biết cậu nghĩ như vậy. Nhưng chưa đâu.”

Từ lâu Thibault đã biết rằng, một khi Victor bắt đầu nói về chủ đề gì thì cậu sẽ nói về nó mãi không thôi và chỉ dừng lại khi cậu tin là quan điểm đã được làm rõ. Nhưng Thibault không muốn lãng phí ngày cuối cùng như thế, nên anh nghĩ hay nhân dịp này dứt điểm cho xong chủ đề ấy đi.

“Thôi được,” anh thở dài. “Vì sao nó lại chưa kết thúc?”

Victor nhún vai. “Bởi vì đó là món nợ chưa trả.”

“Món nợ chưa trả,” Thibault nhắc lại bằng giọng đều đều.

“Đúng,” Victor nói. “Chính xác thế đấy. Cậu hiểu không?”

“Không.”

Victor rên lên thất vọng vì thấy Thibault chậm hiểu. Ví dụ có ai đó đến làm mái nhà cho cậu. Người đó làm việc cật lực, và sau đó anh ta sẽ được trả công. Chỉ khi đó mọi chuyện mới kết thúc. Nhưng trong trường hợp này, về bức ảnh ấy mà, thì giống như cái mái nhà đã làm xong, nhưng chủ nhà lại chưa trả công cho thợ. Chừng nào việc thanh toán chưa xong thì coi như món nợ vẫn còn đó.”

“Cậu đang nói là tớ nợ người phụ nữ này thứ gì đó ư?” Thibault tỏ vẻ hoài nghi.

“Đúng. Bức ảnh đã bảo vệ cậu và mang lại may mắn cho cậu. Nhưng một khi cậu chưa thanh toán món nợ đó thì mọi chuyện còn chưa kết thúc.”

Thibault lấy một lon soda trong thùng ướp lạnh. Anh đưa cho Victor một lon. “Cậu đúng là dở hơi.”

Victor cầm lon nước và gật đầu. “Cũng có thể. Nhưng cuối cùng thì cậu vẫn sẽ đi tìm cô ấy. Có một mục đích lớn lao hơn cho toàn bộ chuyện này. Đó là số phận của cậu.”

“Số phận của tớ.”

“Ừ.” :

“Nghĩa là sao?”

“Tớ không biết. Nhưng cậu sẽ biết khi nó đến.”

Thibault không nói gì, chỉ ước giá như Victor đừng bao giờ khơi ra chuyện này. Victor săm soi bạn mình.

“Biết đâu,” cậu suy đoán, “số phận của cậu và cô ấy là dành cho nhau.”

“Tớ có yêu cô ấy đâu hả Victor.”

“Không yêu?”

“Không,” anh đáp.

“Ấy nhưng,” Victor quan sát, “cậu lại thường xuyên nghĩ về cô ấy.”

Đến đây thì Thibault im lặng, bởi vì anh chẳng biết nói gì hơn.

* * *

Sáng thứ Bảy, Thibault đến sớm và bắt tay ngay vào công việc thường lệ ở khu trại chó: cho ăn, làm vệ sinh và huấn luyện. Trong lúc anh làm thì Ben chơi với Zeus cho đến khi Elizabeth gọi nó vào để chuẩn bị đi. Đứng trên bậc tam cấp, cô vẫy con trai; dù đứng cách khá xa nhưng anh vẫn có thể thấy là cô đang lơ đãng.

Cô quay vào trong nhà đúng lúc anh đưa mấy con chó ra; anh thường cho chó đi dạo theo từng nhóm ba con, với Zeus theo sau. Ra khỏi nhà một quãng xa, anh sẽ tháo xích cho lũ chó, nhưng chúng vẫn hay lẵng nhẵng bám theo anh bất chấp anh đi về hướng nào. Anh thích thay đổi lộ trình; làm thế là để giữ lũ chó không lang thang quá xa. Giống như con người, chó sẽ cảm thấy nhàm chán nếu như ngày nào cũng làm một công việc như nhau. Thông thường, các cuộc dạo chơi của mỗi nhóm kéo dài khoảng ba mươi phút. Sau cuộc dạo của nhóm thứ ba, anh để ý thấy chiếc xe của Elizabeth đã đi rồi, và anh đoán cô đưa Ben tới nhà bố cậu bé.

Anh không thích bố của Ben, chủ yếu là vì Ben và Elizabeth không thích anh ta. Anh ta có vẻ là người rất khó chịu, nhưng anh chẳng thể làm gì hơn ngoài việc lắng nghe cô nói về anh ta. Anh chưa đủ thân thiết với cô để đưa ra một lời khuyên nào đó, và nếu anh có muốn đi nữa cô cũng có hỏi ý kiến anh đâu cơ chứ. Gì thì gì, đó cũng chẳng phải việc của anh.

Vậy việc của anh là gì? Vì sao anh lại ở đây? Dù rất không muốn, nhưng anh vẫn cứ hồi tưởng về cuộc nói chuyện với Victor, và anh biết mình ở đây là vì những gì Victor đã nói trên mặt hồ buổi sáng hôm đó. Và, tất nhiên cả những gì xảy ra sau đó nữa.

Anh cố xua đuổi ký ức đó đi - Anh sẽ không đến đó nữa. Không bao giờ.

Thibault gọi lũ chó rồi cùng chúng quay về chuồng. Sau khi nhốt chúng lại, anh đi xem xét nhà kho. Khi bật đèn lên, anh ngạc nhiên dán mắt vào các giá đồ dọc theo các bức tường. Hóa ra ông của Elizabeth không chỉ có vài thứ đồ ít ỏi - nơi này thật chẳng khác gì một cửa hàng dụng cụ bừa bộn. Anh đi lại trong nhà kho, xem xét các giá đồ, lục lọi trong mấy hộp đồ nghề và hàng đống vật dụng để trên bàn gia công cơ khí. Cuối cùng anh cũng tìm được một cái mỏ lết, mấy bộ cờ lê lục lăng, một cái kích, rồi anh đem chúng ra chỗ chiếc xe tải. Theo lời dặn của Elizabeth, anh tìm thấy chìa khóa xe dưới tấm thảm để chân. Thibault lái xe ra cổng, hướng về phía một cửa hàng dụng cụ ô tô mà anh láng máng nhớ là đã nhìn thấy gần thị trấn.

Mọi thứ anh cần đều có ở đây - má phanh, kẹp chữ C và một ít mỡ chịu nhiệt - chưa đầy nửa tiếng sau anh đã trở về nhà. Anh đặt cái kích vào vị trí và kích chiếc xe lên, sau đó tháo bánh xe đầu tiên. Dùng kẹp chữ C, anh ép ngược pít tông và gỡ má phanh cũ ra. Sau khi kiểm tra tình trạng của rô tơ, anh lắp má phanh mới vào, rồi lắp bánh xe trở lại vị trí cũ. Anh cũng làm tương tự như thế với các bánh còn lại.

Khi đang làm gần xong má phanh thứ ba thì anh nghe tiếng động cơ xe của Elizabeth đi trên lối vào, từ từ tiến đến và đỗ ngay cạnh chiếc xe tải cũ. Anh ngoái lại đúng lúc cô vừa ra khỏi xe, anh chợt nhận ra cô đã đi được vài tiếng.

“Công việc thế nào anh?” cô hỏi.

“Cũng sắp xong.”

“Thật sao?” Cô có vẻ ngạc nhiên.

“Chỉ là mấy cái má phanh thôi mà. Không có gì to tát.”

“Tôi cá là bác sĩ phẫu thuật cũng nói như vậy. Chỉ là bị ruột thừa thôi mà.”

“Cô có muốn học cách thay phanh không?” Thibault hỏi, ngước nhìn khuôn mặt bị ngược sáng của cô như in trên nền trời.

“Có lâu không?”

“Không.” Anh nhún vai. “Chắc khoảng mười phút.”

“Chỉ thế thôi sao?” cô ngạc nhiên. “Được. Đợi tôi đem đồ ăn vào nhà đã nhé.”

“Có cần tôi giúp không?”

“Không, chỉ vài cái túi thôi mà.”

Anh lắp bánh xe thứ ba vào vị trí và siết chặt đai ốc trước khi chuyển sang tháo chiếc cuối cùng. Anh mới chỉ nới lỏng các đai ốc thì đã thấy Elizabeth đến bên. Khi cô ngồi xổm xuống bên cạnh, anh có thể thấy thoang thoảng mùi dầu dừa của loại nước thơm mà cô dùng sáng nay.

“Đầu tiên, cô tháo bánh xe ra...” anh bắt đầu tỉ mỉ hướng dẫn toàn bộ quy trình cho cô, đảm bảo rằng cô hiểu từng bước một. Khi anh hạ kính xuống và bắt đầu thu dọn dụng cụ, cô lắc đầu.

“Có vẻ như rất dễ. Tôi nghĩ thậm chí tôi cũng có thể làm được.”

“Chắc chắn rồi.”

“Vậy tại sao họ lại lấy tiền công đắt thế nhỉ?”

“Tôi không biết.”

“Đúng là tôi đã chọn nhầm nghề mất rồi.” Cô vừa nói vừa đứng dậy, cột tóc thành túm đuôi ngựa sau đầu. “Dù sao cũng cảm ơn anh đã giúp. Từ lâu tôi đã muốn đi sửa mấy cái phanh đó.”

“Không có gì.”

“Anh có đói không? Tôi vừa mua một ít thịt gà để làm bánh kẹp thịt. Và cả dưa muối nữa.”

“Nghe ngon quá nhỉ,” anh trả lời.

Họ ăn trưa ở hiên sau của ngôi nhà, nơi nhìn ra khu vườn. Elizabeth có vẻ hơi lơ đãng, dẫu vậy họ cũng tào lao đôi chút về chuyện người ta lớn lên như thế nào ở một thị trấn nhỏ miền Nam, nơi mà mọi người đều biết rất rõ về nhau. Họ kể cho nhau vài câu chuyện vui vẻ. Thibault thừa nhận rằng anh thích một cuộc sống ẩn dật hơn.

“Sao tôi lại không thấy ngạc nhiên nhỉ?” cô hỏi.

Xong xuôi, Thibault trở lại với công việc của mình, còn Elizabeth thì dành buổi chiều dọn dẹp nhà cửa. Không như ông cô, Thibault đã mở toang cái cửa sổ phòng vốn bị dính chặt bằng sơn từ lâu, mặc dù việc đó có vẻ khó hơn nhiều so với việc sửa phanh ô tô. Nhưng lại chẳng dễ dàng đóng mở cái cửa sổ đó. Cho dù anh đã cố dùng cát chà nhiều lần để làm nó trơn tru. Tiếp đến anh sơn lại khung cửa.

Sau đó anh lại tiếp tục các công việc thường nhật của mình. Làm xong mọi việc ở khu trại chó lúc gần năm giờ chiều mặc dù có thể ra về, nhưng anh đã không làm vậy. Anh bắt đầu soạn các chồng hồ sơ, vì công việc này sẽ ngốn cả ngày mai nên anh muốn bắt tay vào làm được chút nào hay chút ấy. Sau hai tiếng đồng hồ, anh nghĩ là mọi thứ đã ngăn nắp hơn rất nhiều - mà có ai ở đây để mà bình luận kết quả của anh cơ chứ - anh không nghe thấy Elizabeth đang lại gần. Anh chỉ thấy Zeus nhỏm dậy tiến ra phía cửa.

“Thật ngạc nhiên là anh vẫn còn ở đây,” cô cất lời từ ngưỡng cửa. “Tôi thấy đèn sáng và nghĩ anh quên tắt đèn.”

“Quên thế nào được.”

Cô chỉ vào đống hồ sơ trên bàn. “Tôi thực không thể diễn tả được tôi vui tới mức nào vì anh đã sắp xếp lại chỗ này. Hồi hè bà đã giục tôi nhưng tôi cứ lờ đi mãi.”

“May cho tôi quá,” anh dài giọng.

“Không, may cho tôi mới đúng. Tôi cảm thấy rất có lỗi.”

“Tôi thì hầu như tin cô, ngoại trừ cái điệu tủm tỉm kia. Cô có nghe tin gì về Ben hay bà Nana không?”

“Cả hai,” cô trả lời. “Bà tôi rất ổn, còn Ben thì khổ sở. Nó không kể gì nhiều, nhưng tôi cảm thấy điều đó qua giọng nói của nó.”

“Tôi rất tiếc,” anh nói với vẻ thông cảm.

Cô nhún vai một cách bồn chồn trước khi cầm lấy tay cửa. Cô xoay xuôi xoay ngược, tỏ ra thích thú với cơ cấu của nó. Cuối cùng, cô buông một tiếng thở dài. “Anh có muốn giúp tôi làm ít kem không?”

“Gì cơ?” Anh đặt tập hồ sơ đang dán nhãn xuống.

“Tôi rất thích kem tự làm. Không gì ngon bằng khi nó còn lạnh, nhưng cũng chẳng vui vẻ gì nếu làm xong rồi không biết chia sẻ với ai.”

“Tôi không nhớ là đã bao giờ được ăn kem tự làm chưa...”

“Thế thì anh không biết là anh đang bỏ lỡ cái gì đâu. Thế nào?”

Sự nhiệt tình kiểu trẻ con của cô lan cả sang anh “Được thôi,” anh đồng ý. “Nghe có vẻ vui đấy.”

“Để tôi chạy ra cửa hàng kiếm mấy thứ cần thiết. Tôi sẽ quay lại ngay.”

“Thế thì tại sao lại không mua kem luôn ở đó cho đơn giản nhỉ?”

Đôi mắt cô sáng lên thích thú. “Nhưng nó sẽ không giống như kem tôi làm. Rồi anh sẽ thấy. Tôi sẽ quay lại ngay sau vài phút.”

Và đúng như cô nói. Thibault chỉ kịp thu dọn lại bàn làm việc và kiểm tra trại chó lần cuối thì đã nghe thấy tiếng xe cô quay về. Hai người gặp nhau lúc cô đang ra khỏi xe.

“Anh có thể mang giúp tôi bịch đá bào vào nhà không?” cô hỏi. “Nó ở ghế sau.”

Anh xách túi đá bào theo cô vào trong bếp, rồi cất vào trong tủ lạnh trong khi cô lấy ra một bịch “Half and half”(1) loại một lít đặt lên quầy bếp.

(1) Half and half: một loại đồ uống ở Mỹ, là hỗn hợp gồm sữa và váng sữa, mỗi thứ một nửa.

“Anh có thể lấy giúp tôi cái máy làm kem không? Nó ở trong kho bếp, giá trên cùng bên trái.”

Thibault bước ra khỏi kho bếp cùng với một chiếc máy làm kem loại quay tay trông ít nhất cũng phải năm mươi năm tuổi. “Có phải cái này không?”

“Đúng nó đấy.”

“Nó vẫn dùng được chứ?” anh hỏi vẻ không mấy tin tưởng. “Như mới ấy chứ. Đáng kinh ngạc đúng không? Đó là quà cưới của bà, nhưng nhà tôi vẫn dùng nó suốt đấy. Nó làm kem ngon lắm.”

Anh mang nó lại chỗ quầy và đứng cạnh cô. “Tôi có thể làm gì nữa?”

“Nếu anh đồng ý quay máy đánh kem thì tôi sẽ trộn các thứ.”

“Công bằng đấy”, anh nói.

Cô lấy ra một cái máy trộn chạy điện, một cái bát và một cái cốc đong. Trong ngăn đựng đồ gia vị, cô chọn ra đường, bột và tinh dầu vani. Cô cho ba cốc đường và một cốc bột vào bát, dùng tay trộn đều rồi đặt bát lên trên giá máy trộn. Sau đó, cô đập vào ba quả trứng, rót hết Half and half vào, cho thêm ba thìa cà phê tinh dầu vani, rồi bật máy trộn. Sau cùng, cô thêm một chút sữa, rồi đổ hỗn hợp này vào hộp kem và đặt nó vào máy làm kem, bao xung quanh hộp bằng đá bào và muối hạt.

“Xong rồi,” cô thông báo rồi đưa nó cho anh. Cô gom chỗ đá bào và muối hạt còn lại. “Chúng ta ra ngoài hiên. Phải làm ở ngoài đó, nếu không sẽ không đạt.”

“Ra thế,” anh nói.

Cô ngồi cạnh anh trên bậc thềm, gần anh hơn một chút so với hôm trước. Kẹp hộp kem giữa hai chân, Thibault bắt đầu quay cần quay, ngạc nhiên khi thấy nó hoạt động thật dễ dàng.

“Cảm ơn anh đã làm kem cùng tôi,” cô nói. “Tôi thực sự cần ăn kem. Tôi đã có một ngày tồi tệ.”

“Vậy sao?”

Cô quay về phía anh, nở một nụ cười ranh mãnh. “Anh rất giỏi đấy.”

“Giỏi gì cơ?”

“Nói ‘Vậy sao?’ khi ai đó đưa ra một nhận xét, chỉ vừa đủ để khiến người ta tiếp tục câu chuyện, còn anh lại không bị mang tiếng là quá tò mò.”

“Vậy sao?”

Cô cười khúc khích. “Vậy sao,” cô nhại lại. “Trong khi hầu hết mọi người sẽ nói đại loại như, ‘Chuyện gì đã xảy ra’ hoặc, ‘Vì sao?’.”

“Được rồi. Chuyện gì đã xảy ra? Vì sao nó lại là một ngày tồi tệ?”

Cô phát ra một tiếng khịt mũi khó chịu, “Ờ, chỉ là sáng nay, khi sắp xếp đồ đạc Ben đã rất hư, và tôi đã phải phát nó một cái vào mông để giục nó khẩn trương, vì nó quá lề mề. Bố nó lúc nào cũng khó chịu mỗi khi nó đến muộn. Nhưng hôm nay thì sao? Chà, hôm nay, dường như thậm chí anh ta quên mất rằng Ben sẽ đến. Tôi phải gõ cửa mất mấy phút thì anh ta mới chường ra mở cửa và tôi biết thừa anh ta vừa mới ra khỏi giường. Nếu biết là anh ta còn đang ngủ, tôi đã chẳng phải vất vả với Ben, và tôi vẫn còn thấy có lỗi với nó. Và, tất nhiên, lúc rời khỏi đó, tôi thấy Ben đang lấy rác đi đổ, vì bố nó quá lười không buồn làm việc đó. Rồi sau đó, tất nhiên, tôi đã dành nguyên ngày để dọn dẹp. Mấy tiếng đầu thì cũng không đến nỗi vất vả lắm, nhưng về sau, tôi thực sự cần được ăn kem.”

“Có vẻ không giống một ngày thứ Bảy thư giãn lắm nhỉ.”

“Hẳn nhiên,” cô lẩm bẩm, và anh có thể đoán là cô đấu tranh xem có nên nói tiếp nữa không. Còn có cái gì đó khác, cái gì khác nữa đang làm cô bận tâm. Và rồi cô hít một hơi thật sâu trước khi buông tiếng thở dài. “Hôm nay là ngày sinh nhật của em trai tôi,” giọng cô hơi run run. “Hôm nay tôi đã đến đó, sau khi chở Ben đến chỗ bố nó. Tôi đã đem hoa đến nghĩa trang.”

Thibault cảm thấy nghẹt thở khi nhìn tới tấm ảnh trên lò sưởi. Mặc dù cũng ngờ ngợ rằng em trai cô đã hy sinh, nhưng đây là lần đầu tiên anh được nghe lời xác nhận của Elizabeth. Ngay lập tức, anh hiểu vì sao cô không muốn ở một mình đêm nay.

“Tôi rất tiếc,” anh nói chân thành.

“Tôi cũng thế. Chắc anh sẽ thích nó. Mọi người đều thích nó.”

“Tôi tin chắc là vậy.”

Cô vặn vẹo hai bàn tay. “Lúc đầu bà quên mất. Tất nhiên, chiều nay bà đã nhớ ra và gọi điện nói là bà rất buồn vì không thể có mặt ở đây được. Bà đã khóc, nhưng tôi đã bảo là mọi việc sẽ ổn thôi. Chuyện không có gì to tát cả.”

“Có đấy. Cậu ấy là em của cô và cô nhớ cậu ấy.”

Một nụ cười buồn bã thoáng qua gương mặt cô, rồi tan biến. “Anh làm tôi nhớ tới nó,” cô nói rất khẽ. “Không hẳn là do vẻ bề ngoài của anh, mà là phong thái của anh. Tôi nhận thấy điều đó ngay khi anh tới xin việc. Giống như là cả hai được đúc từ một khuôn vậy. Tôi đoán đó là phong thái của lính thủy đánh bộ, có phải không?”

“Có lẽ,” anh nói. “Tôi đã từng gặp đủ loại người.”

“Tôi cá là vậy.” Cô ngừng lời, thu đôi chân lại phía ngực và vòng tay ôm hai đầu gối. “Anh có thích không? Làm lính thủy đánh bộ ấy?”

“Đôi khi.”

“Nhưng không phải lúc nào cũng thích?”

“Ừ.”

“Drake lại rất thích. Thực tế là nó yêu tất cả những gì thuộc về lính thủy đánh bộ.” Mặc dù cô đang chăm chú nhìn theo chuyển động của tay quay nhưng Thibault có thể thấy là cô đang chìm đắm trong những ký ức của mình. “Tôi nhớ lúc cuộc tấn công bắt đầu. Khi mà trại Lejeune chỉ cách địa điểm chiến sự chưa đầy một tiếng đi xe thì đó quả là tin tức động trời. Tôi đã rất lo cho nó, đặc biệt là khi nghe nói về vũ khí hóa học và các cuộc đánh bom tự sát. Nhưng anh có muốn biết nó lo lắng điều gì không? Ý tôi là trước cuộc tấn công ấy?”

“Về cái gì?”

“Về một bức ảnh. Một bức ảnh cũ vớ vẩn. Anh có thể tin được không?”

Câu nói bất ngờ đó khiến tim Thibault dộng thình thình trong lồng ngực, nhưng anh vẫn cố tỏ ra bình tĩnh.

“Bức ảnh nó chụp tôi lần đầu hai chị em đến hội chợ năm đó,” cô tiếp tục. “Đó là những ngày nghỉ cuối tuần cuối cùng mà hai chị em tôi còn ở bên nhau trước khi nó nhập ngũ. Sau khi đi lòng vòng một lúc, bọn tôi lững thững tách ra khỏi đám đông. Tôi nhớ là đã cùng nó ngồi cạnh một cây thông to, vừa nói chuyện vừa ngắm đu quay hàng tiếng đồng hồ. Đó là một chiếc đu quay rất lớn, sáng rực ánh đèn; bọn tôi có thể nghe thấy tiếng lũ trẻ hú hét ầm ĩ khi chiếc đu khổng lồ cứ quay tròn dưới bầu trời mùa hè tuyệt đẹp. Bọn tôi nói về bố mẹ, về việc nếu còn sống thì bây giờ họ sẽ thế nào, liệu tóc hai người đã bạc chưa, chúng tôi vẫn sẽ ở Hampton hay đã chuyển đi nơi khác, và tôi nhớ là mình đã nhìn lên trời. Bất chợt, một ngôi sao băng vụt qua, và điều ước duy nhất tôi có thể nghĩ ra là bằng một cách nào đó bố mẹ cũng đang nghe thấy điều bọn tôi nói.”